Mùa Vọng Suy Gẫm – Ơn Cứu Rỗi Đến Từ Thiên Chúa – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

10 views

Đọc Kinh Văn: – Ê-sai 7: 10-14 (Bản Dịch Mới)

1 “Vào thời A-cha, con Giô-tham, cháu Ô-xia, vua nước Giu-đa; vua nước Sy-ri là Rê-xin và Phê-ca, con Rêma-lia, vua nước Y-sơ-ra-ên, tiến lên đánh thành Giê-ru-sa-lem nhưng không chiếm được. 2 Nhà Đa-vít được bảo rằng: “Sy-ri liên kết với Ép-ra-im.” Bấy giờ lòng A-cha và dân chúng đều rúng động như cây trên rừng trước cơn gió. 3 CHÚA phán cùng I-sa rằng: “Ngươi và con trai ngươi, Sê-a Gia-súp hãy đi đón A-cha tại cuối đường cống Ao Thượng, trên đường đi đến đám ruộng thợ dệt. 4 Hãy nói với người: “Hãy cẩn thận, hãy yên lặng, chớ sợ, đừng mất bình tĩnh vì hai khúc củi cháy bốc khói, tức là cơn giận dữ của Rê-xin, Sy-ri và con trai Rêma-lia. 5 Vì Sy-ri, Ép-ra-im và con trai Rê-ma-lia đồng mưu hại ngươi.’” Chúng nói: 6 “Chúng ta hãy lên đánh Giu-đa, làm cho nó kinh hoàng, chiếm cứ nó cho chúng ta và lập con trai Ta-bê-ên lên làm vua tại đó.” 7 Vì thế, CHÚA phán: “”Điều đó sẽ không thành; Nó sẽ không xảy ra. 8 Vì đầu của Sy-ri là Đa-mách, Đầu của Đa-mách là Rê-xin. Trong vòng sáu mươi lăm năm Ép-ra-im sẽ tiêu tan, không còn là một dân nữa. 9 Đầu của Ép-ra-im là Sa-ma-ri, Đầu của Sa-ma-ri là con trai Rê-ma-lia. Nếu các ngươi không vững tin, Các ngươi sẽ không đứng vững được.’” 10 CHÚA lại phán cùng A-cha: 11 “Hãy xin CHÚA, Đức Chúa Trời ngươi một-dấu hiệu, hoặc sâu tận địa ngục hay cao tận thiên đàng.” 12 A-cha nói: “Tôi sẽ không xin cũng không thử CHÚA.” 13 I-sa đáp: “Hỡi nhà Đa-vít, hãy nghe đây, làm phiền người ta các ngươi cho là việc nhỏ mọn lắm sao? nay lại còn làm phiền Đức Chúa Trời ta nữa? 14 Vậy, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu hiệu, nầy, một trinh nữ sẽ mang thai, sinh một con trai và đặt tên là Em-ma-nu-ên. 15 Nó sẽ ăn sữa đông và mật. Khi nó biết bỏ điều ác và chọn điều thiện. 16 Vì trước khi đứa trẻ biết bỏ điều ác và chọn điều thiện thì nước của hai vua mà người sợ sẽ bị bỏ hoang. 17 CHÚA sẽ đem đến cho các ngươi, cho dân các ngươi, cho nhà tổ tiên các ngươi những ngày chưa từng có như vậy từ khi Ép-ra-im tách rời khỏi Giu-đa, tức là đem vua A-si-ri đến.” 18 Vào ngày ấy, CHÚA sẽ huýt sáo gọi ruồi từ các nguồn suối Ai-cập, và gọi ong từ đất A-si-ri. 19 Chúng sẽ đến và tất cả sẽ đậu trong các hẻm núi sâu, nơi các hốc đá, trên các bụi gai và ao nước. 20 Vào ngày ấy Chúa sẽ dùng dao cạo thuê từ bên kia sông tức là Vua A-si-ri để cạo đầu, cạo lông chân và cũng cạo sạch râu ngươi luôn. 21 Vào ngày ấy một người sẽ nuôi một con bò cái tơ và hai con cừu. 22 Người ta sẽ ăn sữa đông vì chúng cung cấp sữa dư dật. Vì tất cả những người còn sót lại trong nước sẽ ăn sữa đông và mật. 23 Vào ngày ấy, tất cả những nơi vốn có cả ngàn cây nho trị giá cả ngàn nén bạc sẽ mọc toàn cây gai và bụi gai. 24 Người ta sẽ mang cung tên theo khi đến đó vì cả xứ đều đầy cây gai và bụi gai. 25 Người ta sẽ không đến tất cả các đồi vốn được cày cuốc vì sợ gai góc và bụi gai, nhưng sẽ thả bò và cho cừu giẫm.”

– Phúc âm Lu-ca 1: 26-38
26 Vào tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa-rét, thuộc miền Ga-li-lê, 27 gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên Giô-sép, thuộc gia tộc Đa-vít; trinh nữ này tên Ma-ri. 28 Vào gặp Ma-ri, thiên sứ nói: “Xin chúc mừng cô, người được hồng phúc Chúa ở cùng cô!” 29 Nghe lời chào ấy, Ma-ri rất bối rối, ngẫm nghĩ xem lời chào đó có nghĩa gì. 30 Nhưng thiên sứ tiếp: “Ma-ri, đừng sợ! Vì cô được Đức Chúa Trời ban ân sủng. 31 Này, cô sẽ thụ thai và sinh một trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người trai đó sẽ nên cao trọng và sẽ được xưng là Con Đấng Chí Cao. Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi vua Đa-vít, tổ phụ Ngài. 33 Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; nước Ngài sẽ không bao giờ chấm dứt.” 34 Ma ri hỏi: “Tôi còn là trinh nữ, làm sao có việc đó?” 35 Thiên sứ đáp: “Thánh Linh sẽ giáng trên cô, quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ bao phủ cô, cho nên Con Thánh sinh ra sẽ được xưng là Con Đức Chúa Trời. 36 Kìa, bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với cô dù trong tuổi già nua, cũng thụ thai đã sáu tháng rồi dù có tiếng là hiếm hoi. 37 Vì không có điều gì Đức Chúa Trời không làm được!” 38 Ma-ri nói: “Vâng, con là đầy tớ Chúa, nguyện việc đó xảy đến cho con như lời ông nói!” Rồi thiên sứ rời khỏi Ma-ri.”

Đọc thêm: II Các Vua 16: 1-20

Lịch sử Cựu Ước đã nhiều lần chứng minh: khi nào con người biết trông cậy hoàn toàn và thi hành theo ý muốn của Thiên Chúa, con người sẽ được Ngài bảo vệ và ban phước lành; khi nào con người không trông cậy vào Thiên Chúa, nhưng tin tưởng vào sức mình hay các quyền lực thế gian, con người bị thất bại và bị nguyền rủa.

Hai phân đoạn Kinh Văn trên đây cho chúng ta thấy có hai phản ứng trái ngược xảy ra:

Thứ nhất, trong Kinh Văn Ê-sai 7: 10-14, Tiên-tri Ê-sai khuyên Vua A-cha phải trông cậy vào sức mạnh và uy quyền của Thiên Chúa mà không cần phải làm gì cả, vì chính Ngài sẽ giải thoát Vương quốc Giu-đa nhưng vua này đã không chịu nghe lời, sai sứ giả đi cầu viện quân A-sy-ri để được bảo vệ. Kết quả là nước mất, nhà tan, vua dân đều bị lưu đày. Tuy nhiên, trên hết mọi sự, Thiên Chúa vẫn điều khiển mọi quyền lực của toàn thế giới này và lời Ngài hứa vẫn tiếp tục ứng nghiệm.

Thứ hai, trong Phúc Âm Lu-ca 1: 26-28, lời hứa ban Đấng Cứu-Thế từ Cựu Kinh nay được ứng nghiệm: Thiên thần Gabriel truyền tin cho trinh nữ Maria về sự chịu thai và ra đời của Đấng Cứu Thế. Không giống như sự cứng lòng và bất tuân của Vua A-sai, trinh nữ Ma-ri hoàn toàn tin tưởng nơi quyền năng và sự bảo vệ của Thiên Chúa, cô đã thưa với thiên sứ: “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Kết quả là Ơn Cứu Rỗi được lan tràn tới muôn người.

Đọc và suy gẫm: II Các Vua 16: 1-20

A- Kinh Văn Ê-sai 7:10-14: “Này đây một thiếu nữ sẽ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel.”

1. Bối cảnh lịch sử: Đọc Ê-sai 7:1-9 để hiểu hoàn cảnh của nước Do-Thái thời bấy giờ. Đất nước bị chia đôi thành hai vương quốc: miền Bắc gọi là Israel, thủ đô đặt tại Samaria; miền Nam gọi là Judah, thủ đô đặt tại Jerusalem. Vương quốc miền Bắc liên minh với Syria thành liên minh Sy-ri-Ep-ra-im, để xâm chiếm miền Nam. Đứng trước nguy cơ bị thôn tính, Vua A-cha của Vương quốc Giu-đa đã sai sứ giả qua A-sy-ri cầu viện mặc dù đã bị ngăn cản bởi Tiên-tri Ê-sai, vua sẵn sàng dâng lễ vật triều cống và trở thành vương hầu của Assyria. Vua còn lo lắng hơn nữa vì không có người nối dõi tông đường; đứa con duy nhất của Vua đã bị dâng làm sinh tế trên bàn thờ cho Tà thần Moloch (II Vua 16:3).

2. Ý muốn của Thiên Chúa: Khi hay tin Vua A-cha đã không chịu nghe lời Thiên Chúa, Tiên-tri Ê-sai đến gặp và nói cho Vua biết ý muốn của Thiên Chúa: “Một lần nữa Đức Chúa phán với vua A-cha: “Ngươi cứ xin Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh.” Vua A-cha trả lời: “Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Thiên Chúa.” Thực ra, Vua A-cha đã không còn tin cậy nơi Thiên Chúa nữa, vua chạy theo các thần ngoại, và chỉ còn biết cậy trông vào sức con người.
Tiên-tri Ê-sai nói tiếp: “Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa? Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel.”

Emmanuel có nghĩa “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” là một tên biểu tượng được cho đứa trẻ mà vợ mới của Vua A-sa sắp cưu mang (Hezekiah). Tiên-tri Ê-sai nhấn mạnh: chính đứa trẻ này sẽ nối ngôi, không do sự cầu viện của vua, nhưng hoàn toàn do ý muốn của Thiên Chúa.

A-sy-ri xâm lăng và tấn công Giu-đa (Ê-sai 8:5-8); niềm hi vọng của Vua A-cha trở thành cớ cho A-sy-ri xâm lăng và phá hủy Giu-đa. Tuy nhiên, những gì Thiên Chúa hứa vẫn tiếp tục được thực hiện. Dòng dõi Đa-vít và Thủ đô Jerusalem vẫn tồn tại sau thời kỳ lưu đày và lời hứa về Đấng Cứu Thế phát sinh từ dòng dõi Đa-vít vẫn tiếp tục được ứng nghiệm. Điều này chứng tỏ rõ ràng cho con người biết: Ý muốn của Thiên Chúa vượt trên mọi tính toán và khả năng của con người, và Ơn Cứu Rỗi đến từ Thiên Chúa!

B- Phúc Âm Lu-ca 1:26-38: Lời hứa ban Đấng Cứu Thế được thực hiện.
Hơn 500 năm sau thời kỳ lưu đày, trải qua 14 thế hệ của dòng tộc Đa-vít, lời hứa ban Đấng Cứu Thế của Thiên Chúa được ứng nghiệm trong hoàn cảnh như sau:

1. Thiên thần Gabriel thông báo tin cho trinh nữ Maria: “Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “

Ma-ri, đừng sợ! Vì cô được Đức Chúa Trời ban ân sủng. 31 Này, cô sẽ thụ thai và sinh một trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người trai đó sẽ nên cao trọng và sẽ được xưng là Con Đấng Chí Cao. Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi vua Đa-vít, tổ phụ Ngài. 33 Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; nước Ngài sẽ không bao giờ chấm dứt.”
2. Phản ứng của trinh nữ Maria: Vì chỉ mới hứa hôn mà chưa kết hôn, Maria thưa với Gáp-ri-ên: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Thiên Chúa dùng Ma-ri là một phương tiện để Chúa Ngôi Hai nhập thể trong một tử cung của trinh nữ có lòng thanh sạch và tinh tuyền như thế. Hơn nữa, lời tiên tri của Ê-sai cũng đã dự ngôn về trinh nữ này (Ê-sai 7:14).

Trinh nữ Maria cũng giống như nhiều người chúng ta, thắc mắc theo sự hiểu biết của con người: Làm sao thụ thai và sinh con khi mà mình chưa biết đến đời sống của chồng vợ. Chúng ta quên đi cách của Thiên Chúa: không có việc chi mà Thiên Chúa không thể làm. Thiên thần Gáp-ri-ên cắt nghĩa phương cách của Thiên Chúa: “Thánh Linh sẽ giáng trên cô, quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ bao phủ cô, cho nên Con Thánh sinh ra sẽ được xưng là Con Đức Chúa Trời.

Gáp-ri-ên đưa một bằng chứng thực tế: “Kìa bà Elizabeth, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”
Sau khi đã lắng nghe lời cắt nghĩa của Gáp-ri-ên, trinh nữ Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

SUY NIỆM:

– Chúng ta phải sáng suốt để nhận ra uy quyền và sức mạnh của Thiên Chúa; đồng thời phải biết khiêm nhu nhận ra sự bất toàn và yếu đuối của mình.
– Chúng ta phải luôn luôn vâng phục và thi hành thánh ý Thiên Chúa, dù cho chúng ta không luôn luôn hiểu thấu ý định của Ngài.
– Điều tâm niệm: Đối với Thiên Chúa, không có gì gọi là không thể, Ngài có quyền uy vô hạn. Chúng ta đừng bao giờ giới hạn một Thiên Chúa toàn năng theo trí hiểu giới hạn của con người. Amen

 

Câu chuyện về Messiah của Handel – Lindsay Terry – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh Dịch

13 views

Câu chuyện xảy ra ở tỉnh Dublin, tại Ireland vào ngày là 13 tháng Tư năm 1742; và nơi chốn là phòng thính nhạc của Neal. Một ca đoàn đứng lên và ca vang lên HA-LÊ-LU-GIA, HA-LÊ-LU-GIA, HA-LÊ-LU-GIA với số thính giả tràn ngập thính đường. Một đám đông đã tập trung lại để nghe buổi khai diễn của một màn nhạc có định hướng trở thành tiết mục nhạc nổi tiếng rộng lớn nhất trên thế giới.

Vị khách đáng chú ý nhất trong nhóm người hiện diện là Vua Geoge Đệ Nhị của Anh Quốc. Nhà vua rất cảm động bởi tiết điệu nhạc mạnh mẽ đến nỗi ông đứng lên, một hành động dường như đã nhắc nhở toàn khán giả cùng làm thế. Từ ngày đó, bất cứ nơi nào trên thế giới khi bạn nghe khúc ca “Hallelujah Chorus,” một phần của nhạc kịch Messiah, khán thính giả đều đứng lên.

Mỗi năm trong mùa Chúa Giáng Sinh, hàng triệu người được cảm hứng và vui sướng vì màn nhạc kịch vĩ đại đó, mà người sáng tác, không giống một ai, đã làm say đắm thế giới âm nhạc trong suốt những ngày lễ. Ông ta là ai?

George Frederick Handel

George Frederick Handel được sanh ra tại nước Đức vào ngày 23 tháng Hai năm 1685. Ông đã phát triển tài năng thiên phú về âm nhạc của ông từ lúc còn rất trẻ, chơi đàn clavier -một dụng cụ bấm nút có giây- vào khoảng bảy tuổi, và thành thạo hầu hết những dụng cụ hòa tấu trước tuổi mười chín.

Mẹ của Handel, con gái của một vị giáo sĩ Lutheran, muốn bảo đảm việc giáo huấn tâm linh ban đầu của ông. Mặc dù thân phụ ông, một bác sĩ giải phẩu, thì muốn con mình phải học luật, nhưng ông tiếp tục cơ nghiệp âm nhạc của mình sau cái chết của cha ông, việc đã xảy ra trong khi ông còn ở đại học.

Sau nhiều năm trong nghề cách khiêm nhường tại Ý, viết và sáng tác những vở nhạc kịch opera và những màn nhạc thánh (oratorios), Handel qua Anh Quốc, nơi đó ông nhanh chóng tìm thấy tiếng tăm, thuận lợi, và may mắn, đặt biệt giữa vòng hoàng gia và giới quí tộc. Ông tiếp tục với những kinh nghiệm âm nhạc của mình, trở thành là một trong những người sáng tác nhạc nổi tiếng nhất trên thế giới.

Năm 1741, vào tuổi 56, Handel bắt đầu toả sáng về sự nghiệp âm nhạc của mình. Ông muốn viết một cái gì mà sẽ tồn tại lâu dài. Sau một mùa cầu nguyện, ông bắt đầu công việc của ông. Sau 23 ngày viết gần như liên tục, ông đứng dậy khỏi công việc mình như một người đắc thắng. Ông đã hoàn tất màn nhạc Messiah bất diệt, một màn nhạc đã được trình diễn lan rộng nhất trên thế giới. Cho đến ngày hôm nay hàng ngàn buổi trình diễn đã được nghe đến trong suốt mùa lễ.

Trong những giờ phút trước khi qua đời, ông nhận xét, “Tôi muốn chết . . . trong hi vọng nối kết với Chúa nhân ái, Đức Chúa Trời và Đấng cứu rỗi ngọt ngào của tôi vào ngày Ngài sống lại.”

Gần một trăm năm sau buổi trình diễn đầu tiên của màn nhạc Messiah, Lowell Mason, một vị nhạc trưởng, một sáng tác gia, và là nhà xuất bản của ca đoàn Boston đã lấy âm điệu từ Messiah và soạn lại cho thích hợp với bài thơ do Isaac Watts viết, một trong những nhà thần học và viết thánh ca vĩ đại của Anh Quốc. Handel đã biết và kính trọng Watts, người mà bài thơ của ông, dựa trên Thi Thiên 98, được viết hai mươi bảy năm trước Messiah. Kết quả là một trong những thánh ca Giáng Sinh nổi tiếng nhất của chúng ta, “Phước cho Nhân Loại.”

‘Phước cho nhân loại, Chúa ta ra đời,
Trần gian nghinh vua vô đối.
Kíp mở cửa lòng, tiếp rước Con Trời,
Bầu trời vạn vật hòa thinh,
Bầu trời vạn vật hòa thinh,
Trời đất xướng ca hát khen Vua mình.’

Handel viết trong màn nhạc Messiah của ông, “Và Ngài sẽ trị vì cho đến đời đời vô cùng, HALLELUJAH! Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn Chúa, CHO ĐẾN ĐỜI ĐỜI!”

Bạn có muốn biết niềm hạnh phước được nói đến trong bài hát và có hi vọng trong tương lai cùng ngự trị với Đấng Christ cho đến đời đời không? Bạn có thể có được, bạn biết không! Kinh Thánh nói bạn có thể. Tuy nhiên, có những điều rất đơn giản mà bạn phải làm.

Thành thật công nhận nhu cầu tâm linh của bạn. Kinh Thánh nói:

“Vì mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23), và “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa. . . .” (Giê-rê-mi 17:9)

Thành thật xưng nhận rằng tội lỗi của bạn phải được trả giá cho.

“Tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Giê-xu Christ Chúa chúng ta.” (Rô-ma 6:23). Và “Theo như đã định cho loài người, phải chết một lần, rồi chịu phán xét.” (Hê-bơ-rơ 9:27)

Bằng cách biết ơn xác nhận giá cứu chuộc của Đấng Christ cho tội lỗi của bạn.

“. . . Ngài đã tự hạ mình xuống, và vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” (Phi-lip 2:8) “Huyết báu của Chúa Giê-xu Con Một của Ngài thanh tẩy mọi tội chúng ta” (1 Giăng 1:7b). “Trong khi chúng ta còn là kẻ có tội, Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta” (Rô-ma 5:8b)

Bằng cách vui mừng tin nhận Đấng Christ là Chúa và Đấng Cứu-rỗi của bạn.

“Kẻ đến cùng ta, ta không bỏ ra ngoài đâu” (Giăng 6:37b). “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

Nếu bạn thành thật cầu nguyện lời cầu nguyện sau đây, Chúa sẽ ban cho bạn món quà miễn phí của cứu rỗi và phước hạnh của Ngài, ngay bây giờ!

Chúa Giê-xu yêu dấu, con biết con là kẻ có tội. Cảm ơn Ngài đã chết trên thập tự để chuộc những tội lỗi cho con. Con xin nhận Ngài làm Cứu Chúa của con. Xin ngự vào lòng con và biến đổi con như một đứa con của chính Ngài. Xin hãy giúp con sống suốt phần còn lại của đời con cho Chúa.

Nếu bạn đã nhận Đấng Christ làm Đấng Cứu-rỗi của riêng bạn, rất vui mừng đón tiếp bạn vào gia đình của Chúa!

 

XUẤT XỨ CỦA CA KHÚC SILENT NIGHT – Linh Phương Chuyển Ngữ

13 views

Những ai đã viết ca khúc Silent Night lừng danh được trổi lên trong Mùa Giáng Sinh ? Và ca khúc này đã được cảm tác trong hoàn cảnh nào ?

                                                                 ***

Mùa Giáng Sinh năm 1818 tại Áo quốc (Austria), có một ban ca nhạc kịch với những diễn viên đi trình diễn lưu động tại các thôn làng trong vùng Núi Alps, Áo quốc. Ngày 23 tháng 12, nhóm này đến vùng Orberdorf bei Salzburg, một ngôi làng kế cận Salzburg. Nơi đấy, họ sẽ trình diễn câu chuyện Chúa Giáng Trần tại một giáo đường nhỏ Thánh Nicholas.

Thế nhưng, cây đàn phong cầm trong nhà thờ bị hỏng vì đàn chuột háu đói đã gặm thủng hệ thống gió làm cho đàn không thể phát ra âm thanh và không thể nào có chuyên viên đến sửa kịp trong ngày Thánh lễ Chúa Giáng Sinh… Do đó, nhóm diễn viên không thể trình diễn vở kịch trong nhà thờ mà phải đến một tư gia. Vở kịch trình diễn theo sự việc xảy ra đã được trước thuật trong các chương đầu của Phúc âm Ma-thi-ơ (Matthew) và Lu-ca (Luke) và vị Linh mục phụ tá Joseph Mohr của giáo xứ phải dự phần trong chương trình.

Khi màn đêm buông xuống, ông đi bộ đến nhà của người đàn phong cầm (organ) là Franz Fruber… Joseph Mohr phải vượt lên ngọn đồi. Tại đó, ông nhìn xuống ngôi làng. Bấy giờ, khi ông đứng nhìn quang cảnh chung quanh, từ cao điểm, Joseph Mohr nhìn xuống dãy tuyết trắng yên bình rơi dày bao phủ trên ngôi làng. Làn gió đêm yên tĩnh lướt qua. Mohr cảm xúc trước cảnh trời đêm quá yên bình. Với tâm hồn thơ lai láng, ông nhớ lại những câu thơ mà mình đã sáng tác vài năm trước đây. Đấy là một bài thơ viết về thiên sứ loan báo Tin Mừng đến các chàng mục tử đã và họ đang trông đợi Đấng Cứu-Tinh đến với dân tộc Do-thái theo Phúc âm Matthew và Luke ghi lại…

Thế rồi, Joseph Mohr quyết định dùng những câu thơ này cho lời của ca khúc mừng Chúa Ra Đời trong đêm Thánh lễ Christmas Eve. Ca khúc thì có lời (lyrics) rồi nhưng còn thiếu giai điệu (melody) để có thể đàn và cất lên tiếng hát. Joseph Mohr bèn đi gặp người đánh đàn phong cầm tại Giáo đường St. Nicholas -Frank Xaver Gruber là một hiệu trưởng và giáo sư âm nhạc- để trình bày chuyện đàn phong cầm bị hỏng. Mohr mong mỏi rằng Gruber sẽ viết giai điệu cho bài thơ. Chỉ còn có thì giờ ít oi thì Thánh lễ sẽ đến, vì đàn phong cầm bị hỏng rồi; vì thế, Mohr sẽ dùng tây-ban-cầm (guitar) để đàn và hát lên ca khúc này trong đêm Christmas Eve. Gruber đồng ý và cặm cụi viết giai điệu…

Trong Thánh lễ Christmas Eve đêm 24-12, cả hội chúng giáo dân ngồi trong giáo đường đã được nghe ca khúc “Stille Nacht, heilige Nacht” (Silent Night) bằng Đức ngữ. Một bài ca lời giản dị nhưng sáng láng, tinh khôi đã được cả hai Joseph Mohr và Gruber song ca. Mohr hát giọng tenor và đệm đàn guitar, Gruber hát giọng bass…

Vài tuần lễ sau đó, nhà sản xuất đàn phong cầm nổi tiếng Karl Mauracher đến Nhà thờ St. Nicholas tại Oberndorf để sửa chữa cây đàn phong cầm. Sau khi Mauracher sửa đàn xong thì ông để cho Gruber thử đàn. Mười ngón tay của Gruber lướt trên phím đàn đại phong cầm với giai điệu của ca khúc Silent Night mà hai ông đã hát lên trong Christmas Eve. Nhà sản xuất Mauracher quá đỗi hân hoan khi nghe giai điệu tuyệt vời của ca khúc Silent Night trổi lên, ông bèn xin một copy mang về làng Alpine, Kapfing. Tại đây, hai gia đình ca sĩ nức tiếng vào thời ấy là the Rainers và the Strassers đã nghe ca khúc này. Nhóm ca sĩ này bèn sắp xếp ca khúc Silent Night vào chương trình trình diễn mừng Chúa Giáng Thế. Về sau, các chị em ca sĩ nhà Strassers trình bày ca khúc tuyệt diệu này xuyên suốt vùng Bắc Âu. Năm 1834, nhóm này trình diễn ca khúc “Silent Night” tại triều đình Hoàng đế Frederick William IV, Prussia và nhà vua ra lệnh cho ban hợp xướng của đại giáo đường hát ca khúc này vào mỗi Thánh lễ Giáng Sinh.

Hai mươi năm sau khi ca khúc “Silent Night” đã được viết, nhóm ca sĩ nhà the Rainers mang ca khúc này đến Hoa kỳ và hát lên với Đức ngữ tại Bảo tàng viện Alexander Hamilton Monument phía bên ngoài của Giáo đường Trinity tại New York City. Năm 1859, vị Tư tế (priest) của Giáo hội Episcopal là John Freeman Young phục vụ tại Giáo đường Trinity, New York City dịch ca khúc Silent Night từ nguyên bản Đức ngữ của Joseph Mohr sang Anh ngữ. Năm mươi năm sau khi ca khúc này đã được hát lên bằng Đức ngữ (1863) thì ca khúc “Silent Night” đã được in trong quyển Thánh ca của Charles Hutchins’ Sunday School Hymnal.

Ngày nay, ca khúc “Silent Night” đã được hát vang lên trong 300 ngôn ngữ khác nhau trên toàn cầu…

Mohr’s German lyrics

Stille Nacht, heilige Nacht, Alles schläft; einsam wacht Nur das traute hochheilige Paar. Holder Knabe im lockigen Haar, Schlaf in himmlischer Ruh! Schlaf in himmlischer Ruh!

Stille Nacht, heilige Nacht, Hirten erst kundgemacht Durch der Engel Halleluja, Tönt es laut von fern und nah: Christ, der Retter ist da! Christ, der Retter ist da!

Stille Nacht, heilige Nacht, Gottes Sohn, o wie lacht Lieb’ aus deinem göttlichen Mund, Da uns schlägt die rettende Stund’. Christ, in deiner Geburt! Christ, in deiner Geburt!

Silent Night! Holy Night! John Freeman Young (verses 1-3), ca. 1859 William C. Egan (verses 4-6), 2007

1. Silent night! Holy night! All is calm, all is bright, Round yon Virgin Mother and Child! Holy Infant, so tender and mild, Sleep in heavenly peace! Sleep in heavenly peace!

2. Silent night! Holy night! Shepherds quake at the sight! Glories stream from Heaven afar, Heavenly Hosts sing Alleluia! Christ, the Saviour, is born! Christ, the Saviour, is born!

3. Silent night! Holy night! Son of God, love’s pure light Radiant beams from Thy Holy Face With the dawn of redeeming grace, Jesus, Lord, at Thy Birth! Jesus, Lord, at Thy Birth!

4. Silent Night, Holy Night Here at last, healing light From the heavenly kingdom sent, Abundant grace for our intent. Jesus, salvation for all. Jesus, salvation for all.

5. Silent Night! Holy Night” Sleeps the world in peace tonight. God sends his Son to earth below A Child from whom all blessings flow Jesus, embraces mankind. Jesus, embraces mankind.

6. Silent Night, Holy Night Mindful of mankind’s plight The Lord in Heav’n on high decreed From earthly woes we would be freed Jesus, God’s promise for peace. Jesus, God’s promise for peace.

 

500 Năm Cải Cách Giáo Hội Cơ Đốc Và Sự Phát Triển Của Đạo Tin Lành – Mục sư Nguyễn Xuân Hồng – M.Div.

20 views

Ngày 31-10-2017  là ngày các Giáo hội Tin Lành trên thế giới kỷ niệm 500 năm phát triển của Tin Lành. Vào ngày đó của năm 1517, Martin Luther một Tu sĩ Công Giáo dòng Thánh Augustine gắn 95 luận đề trước cửa nhà thờ Wittenberg (Đức) phản đối việc bán bùa xá tội, nêu nghi vấn về Ngục luyện tội, về quyền hạn của Giáo Hoàng và một số tín lý của Giáo Hội. Sau nhiều lần chịu Giáo Hội xét xử, ông bị cắt phép thông công và ở ngoài sự bảo vệ của pháp luật (ai cũng có thể bắt giết). Nhờ sự bảo vệ của Vương Hầu Frederick xứ Saxon, ông được bình an tiếp tục viết sách, diễn thuyết, dịch Kinh Thánh, giảng dạy, tổ chức và điều hành một giáo hội mới hoàn toàn tách biệt khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã. Hoạt động của ông đã dấy lên làn sóng phấn hưng trên các nước Âu Châu với những nhà cải cách nổi tiếng như John Calvin, Huldrych Zwingly, và nhiều người khác nữa. Một mặt họ phản kháng giáo quyền La Mã, mặt khác họ cải cách các giáo hội bản xứ thành những giáo hội biệt lập dựa vào giáo huấn của Kinh Thánh. Từ đó, nhiều giáo hội mà tiếng Việt gọi chung là Tin Lành được lập nên và phát triển ra khắp thế giới. Hiện nay trên thế giới có hơn 600 triệu tín hữu Tin Lành, chiếm hơn 1/3 tổng số tín hữu Cơ Đốc (kể chung cả Công Giáo và Chính Thống giáo).

Sau 500 năm, với thời gian, sự cách biệt giữa Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Tin Lành không còn quá lớn lao như xưa. Giáo Hội Lutheran là quốc giáo của Thụy Điển đã dành nguyên một năm kỷ niệm 500 năm cải chánh, và Giáo Hoàng Francis đã được mời đến khai mạc năm kỷ niệm này vào ngày 31-10 năm 2016. Giáo Hoàng đã khen ngợi Luther, ông nói: “Giáo Hội đã không làm gương tốt, đã lũng đoạn, tham lam, chạy theo thế gian, say mê quyền lực. Luther đã đứng lên phản đối. Ông là người thông minh.” Giáo Hoàng kêu gọi, trong khi chờ đợi các nhà thần học xóa bớt những khác biệt tín lý, hai giáo hội có thể cùng hợp tác với nhau trong các vấn đề xã hội như giúp đỡ người nghèo, dân tị nạn, di dân, và tìm cách làm giảm sự bách hại các tín hữu Cơ Đốc trên thế giới.

Công cuộc kháng cách cũng khiến Giáo Hội Công Giáo La Mã thay đổi: Công Đồng Trent năm 1545 đã hủy bỏ bùa xá tội, qui định lại khuôn phép cư xử và tăng cường trình độ học vấn của hàng giáo sĩ; nhiều dòng tu, đặc biệt là dòng Tên (Jesuite) được thành lập để củng cố uy thế của giáo hội qua các hoạt động xã hội, giáo dục và truyền giáo. Kinh Thánh không còn là độc quyền của hàng giáo sĩ mà dần dần được phổ biến trong giáo dân.

Sự Bùng Nổ Của Tin Lành

Trong mấy chục năm đầu, các nhà cải cách đã nhanh chóng tổ chức các giáo hội địa phương và cải cách sự thờ phượng theo qui định của Kinh Thánh.

Kinh Thánh trước kia chỉ được đọc trong tiếng La-tinh, nay được dịch ra tiếng bản xứ để mọi người có thể đọc. Nhờ phát minh máy in, Kinh Thánh được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, giúp cho trình độ học vấn nguòi dân được nâng cao. Do đó, địa vị phụ nữ trong xã hội được tăng lên. Nông dân ý thức được quyền lợi của mình nên dấy lên đòi hỏi, nhưng vì họ gây ra bạo động, phá hoại, nên bị chính quyền dẹp tan.

Tư tưởng khai phóng của cuộc kháng cách đã làm tiền đề cho trào lưu triết học duy lý  ở Âu Châu và duy nghiệm ở Anh, với các triết gia René Descartes, Plaise Pascal, Baruch Spinoza, John Locke, v.v… thay thế cho triết học kinh viện thời Trung Cổ, khiến cho thời kỳ nầy được mệnh danh là Thời Đại Lý Trí  hay Khai Minh dẫn đến cuộc Cách Mạng Pháp.

Các ý niệm dân chủ, xã hội, tự do tư tưởng cũng như pháp luật vô tư cũng nhờ cuộc cải chánh mà được phát huy khỏi sự kềm hãm của liên minh chặt chẽ giữa nhà nước và giáo hội.

Khoa học trước kia bị bó buộc trong tư duy hạn hẹp của giáo hội (trường hợp Galileo), nay cũng được sổ lồng để tự do phát triển, làm nền móng cho thời đại công nghiệp.

Nhưng cũng chính vì được tự do tư tưởng, nên trong chính các giáo hội ra từ cuộc kháng cách, đã có một số phần tử theo tân phái không tin những sự kiện siêu nhiên của Kinh Thánh, nghĩa là chối bỏ nền tảng tín lý của Tin Lành.

Tuy nhiên, những người tin và kinh nghiệm quyền năng cứu rỗi của Đức Chúa Trời đúng theo nội dung Tin Lành (Phúc Âm) của Kinh Thánh, vẫn tiếp tục phát huy và truyền bá ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nên con số họ tăng mạnh và phát triển ra các châu lục. Người Việt chỉ biết các giáo hội nầy nên dùng từ Tin Lành để chỉ chung họ lẫn các giáo hội theo tân phái.

Các Cuộc Phục Hưng                                        

Một đặc điểm trong lịch sử phát triển Tin Lành là thỉnh thoảng sự kiện Ngũ Tuần thời của sách Công vụ được lặp lại trong các cộng đồng dân Chúa. Theo trước thuật của Kinh Thánh, vào ngày lễ Ngũ Tuần của Do-thái, các môn đồ đang cầu nguyện chờ đợi Đức Thánh Linh giáng xuống theo lời truyền dạy của Chúa Giê-su, thì cả phòng như có tiếng gió thổi ào ào. Có những lưỡi lửa hiện ra đậu trên mỗi người, họ đi ra lảo đảo như say rượu. Họ bắt đầu nói một thứ tiếng không phải tiếng bản xứ, và những người dân từ các quốc gia kéo về dự lễ đều nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của mình tôn vinh Đức Chúa Trời. Rồi họ đi ra truyền giảng và có hàng ngàn người tin nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa mình. Họ cũng cầu nguyện cho người què được đi, người chết  sống lại, người bị quỉ ám được chữa lành. Hội Thánh mau chóng lan tràn ra các quốc gia xung quanh đến tận Âu Châu.

Những hiện tượng như vậy cũng thường xảy ra trong lịch sử 500 năm của Tin Lành và được gọi là những cuộc phục hưng hay phấn hưng của Hội Thánh. Lửa phục hưng thường do những sứ giả phục hưng  là những người tận hiến cho Đức Chúa Trời, được Ngài dùng nhen lên và thổi bùng. Cũng có khi là một nhóm người, như nhóm thương gia ở NewYork năm 1857, khởi đầu chỉ có 10 người họp lại cầu nguyện trưa thứ tư hàng tuần, về sau lên đến hàng chục ngàn người, dẫn đến một cơn phấn hưng khiến cho trong vòng hai năm có một triệu người gia nhập hội thánh.

Nơi nào có sự phục hưng thì hội thánh trở nên sống động, nhiều phép lạ xảy ra, bệnh nan y được chữa lành, tội nhân nổi tiếng bại hoại được biến cải lạ lùng và nhiều người trong số họ trở thành những nhà truyền giáo. Tín đồ yếu đuối nguội lạnh trở nên nóng cháy mạnh mẽ, đời sống họ được thánh hoá, họ sốt sắng cầu nguyện, học Kinh Thánh và thờ phượng Chúa. Nhà thờ trở nên đông đúc, phải lập thêm những nhà thờ mới. Các tổ chức truyền giáo hải ngoại được thành lập, phái nhiều giáo sĩ ra ngoại quốc đem Tin Lành đến cho các dân tộc khác. Hội Thánh cũng lập nhiều cơ quan từ thiện và trường học để đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Theo các sử gia, từ cuộc kháng cách đến nay có 8 làn sóng Thức Tỉnh Toàn Cầu. Mỗi đợt Thức Tỉnh có nhiều sứ giả phục hưng xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau, vào thời điểm khác nhau làm bùng lửa phục hưng cho nhiều Hội Thánh trên nhiều quốc gia khác nhau.

Cuộc phục hưng đầu tiên mở đầu làn sóng Thức Tỉnh Toàn Cầu  xảy ra năm 1725 trong một hội thánh làng quê Moravian ở Đức, với dây chuyền cầu nguyện 24 tiếng/ngày, kéo dài 100 năm. Họ đã gởi 300 giáo sĩ đi truyền giáo ở các nước, và đã ảnh hưởng lên John Wesley là sứ giả phục hưng của nước Anh, người sáng lập giáo hội Giám lý.

Tin Lành đến Việt Nam lần đầu tiên do Hội Truyền Giáo Christian & Missionary Alliance, là một trong nhiều tố chức truyền giáo thành hình trong đợt Thức Tỉnh thứ 5 từ năm 1882.

Đến đợt Thức Tỉnh Toàn Cầu hiện đại kéo dài từ thế kỷ 20 qua đầu thế kỷ 21 thì các cuộc phục hưng nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới. Đến cuối thế kỷ 20 thì Tin Lành toàn cầu đã chuyển trục từ Bắc Mỹ và Âu Châu sang các nước Nam Mỹ và Á Phi. Nhà thờ lớn nhất thế giới không phải ở Mỹ mà ở Seoul Nam Hàn, với 750,000 tín hữu, và ở Jakarta Indonesia với 250,000 tín hữu. (Họ có nhà thờ chính với sức chứa vài ba chục ngàn người và nhiều nhà thờ vệ tinh ở các địa phương)

Những cuộc truyền giảng của các sứ giả phục hưng thuở đầu như John Wesley qui tụ tối đa là vài ba ngàn người. Đến thế kỷ 20, Tiến sĩ Billy Graham ở Mỹ thường xuyên giảng cho những đám đông hàng trăm ngàn người. Ở Nam Mỹ, Carlos Anacondia cũng thu hút nhiều người như vậy qua việc nhân danh Chúa đuổi quỉ, chữa bệnh và đổi mới con người. Ở Phi Châu, các buổi truyền giảng của Reinhard Bonnke có khi lên đến 1,100,000 ngườT; hình chụp biển người cho ta thấy hình cong của trái đất, giống như hình chụp đường chân trời ngoài đại dương vậy.

Tác Động trên Lịch Sử

Về giáo dục:   – Ngay từ buổi sơ khai, việc phổ biến Kinh Thánh thúc đẩy công tác giáo dục xoá nạn mù chữ. Về sau, để giúp các trẻ em lang thang đầu đường xó chợ, các Hội Thánh Tin Lành lập các Trường Chúa Nhật, dần dần trở thành nơi dạy Kinh Thánh cho mọi người.

– Hội Kinh Thánh Quốc Tế và các Hội Kinh Thánh quốc gia, cùng với các hội xuất bản và dịch Kinh Thánh, mỗi năm phát hành một lượng Kinh Thánh khổng lồ vượt xa mọi loại sách khác trên thế giới. Hội Wycliff Bible với những chuyên gia ngôn ngữ chú trọng đặt chữ cho các nhóm dân tộc chưa có chữ để dịch Kinh Thánh cho họ, đồng thời giúp họ mở mang kiến thức. Cho đến nay Kinh Thánh đã được dịch ra 670 thứ tiếng, riêng Tân Ước đã có mặt trong 1521 ngôn ngữ trên địa cầu.

– Không phải chỉ xoá nạn mù chữ, các giáo hội cũng chú trọng việc giáo dục cấp đại học. Các trường đại học danh tiếng ở Mỹ như Harvard, Yale, Princeton, Brown ban đầu do các giáo hội Tin Lành sáng lập để huấn luyện mục sư. Các hội truyền giáo Tin Lành đi tiên phong trong việc mở hàng ngàn trường đại học trên thế giới. Đại Học Y Khoa Bắc Kinh danh tiếng hiện nay là do Giáo Hội Trưởng Lão thành lập năm 1917. Đại Học Nữ Ewha của Nam Hàn do Giáo Hội Giám Lý sáng lập năm 1886, hiện là trường đại học nữ lớn nhất thế giới.

Về xã hội:   – Các cuộc phục hưng tác động mạnh mẽ trên nếp sống người dân. Những kẻ ăn chơi sa đọa trụy lạc được đổi mới. Những người bê tha rượu chè cờ bạc, trộm cắp, mại dâm cũng trở thành những người đàng hoàng, làm ăn lương thiện. Có nơi, các hộp đêm, quán rượu, rạp hát phải đóng cửa vì vắng khách. Có nơi, cảnh sát trở nên quá rỗi rảnh vì không có phạm pháp. Ở Việt Nam, những trung tâm cai nghiện thành công nhất là do các con nghiện tuyệt vọng đã được Chúa cứu lãnh đạo.

–  Tin Lành nâng cao nhân phẩm. Trong Kinh Thánh có nói đến nô lệ nhưng dạy phải khoan dung với họ, nếu họ có cùng niềm tin thì xem như anh em. Công cuộc buôn bán nô lệ bị bãi bỏ trên toàn Đế quốc Anh nhờ một nhóm người Tin Lành do Nghị sĩ Wilberforce đứng đầu vận động. Tổng thống Abraham Lincohn nổi tiếng vì lãnh đạo cuộc chiến bài trừ chế độ nô lệ. Mục Sư Martin Luther King ở Mỹ, Giám Mục Desmond Tutu ở Nam Phi được quí trọng vì lãnh đạo phong trào nhân quyền chống kỳ thị chủng tộc.

–  Nhiều tổ chức xã hội rất ảnh hưởng trên thế giới như Hội Hồng Thập Tự do Henry Dunant ở Thuỵ sĩ, Hội Hướng Đạo do Baden-Powell người Anh là những người Tin Lành thành lập vì lý tưởng nhân đạo. Ngoài ra cũng có những tổ chức truyền giáo nhưng thiên về phụng sự xã hội như Đoàn Quân Cứu Thế (Salvation Army) với 3 S ‘Soap, Soup, Soul’, hội YMCA (Young Men Christian Association) v.v… Cho đến nay có hàng ngàn tổ chức xã hội Tin Lành được thành lập để phục vụ các nạn nhân chiến tranh, thiên tai, nghèo đói trên thế giới.

–  Cuộc phấn hưng do John Wesley lãnh đạo đã xảy ra lúc nước Anh đang diễn ra cuộc Cách Mạng Công Nghiệp. Vô số công nhân làm việc trong các hầm mỏ, xưởng dệt, xưởng máy trong các điều kiện vô cùng cơ cực. Trái với dự đoán của Karl Marx là cuộc cách mạng vô sản sẽ xảy ra tại Anh Quốc, rất đông công nhân tin Chúa đã họp thành các nhà thờ, được sự yễm trợ của các nhà nhân quyền, tranh đấu cho các công đoàn đạt được nhiều thắng lợi, nên cả hai giới chủ thợ cùng đồng hành phát triển, giúp nước Anh thoát được một cuộc cách mạng đẫm máu.

Về khoa học kỹ thuật:  Trái với ngộ nhận của nhiều người cho rằng Tin Lành nghịch lại tinh thần khoa học, nhiều nhà khoa học tiếng tăm như Isaac Newton, Francis Bacon, Michael Faraday, Thomas Edison đều là những người Tin Lành. Tinh thần tôn trọng sự thật của Cơ Đốc giáo giúp ích cho sự tiến bộ khoa học kỹ thuật. Theo bản định giá của Harriet Zuckerman “Scientific Elite: Nobel Laureates in the US” (Giới Tinh Hoa Khoa Học: Khôi Nguyên Giải Nobel ở Mỹ), thì các nhà khoa học Tin Lành  chiếm 84.2% các giải Nobel hoá học, 60% Nobel y học và 58,6% Nobel vật lý, trong số các giải Nobel nước Mỹ nhận được từ năm 1901 đến 1972.

KẾT LUẬN

Những điều trình bày trên đây chỉ mới khái lược, chưa đi sâu vào những gì Tin Lành đã và có thể đem lại cho thế giới. Cuộc kháng cách có thể xem như là cuộc cách mạng tinh thần lớn lao đã ảnh hưởng sâu xa trên toàn thể nhân loại. Những thành tựu đạt được trong 500 năm qua đem cho ta niềm hi vọng rằng, dù cái ác có khả năng tàn phá bao nhiêu đi nữa, Đức Chúa Trời vẫn nắm giữ lịch sử trong bàn tay đại năng của Ngài, và cuối cùng sự thiện sẽ toàn thắng.

 Anaheim, tháng 11-2017

Mục Sư Nguyễn Xuân Hồng, M.Div.

 

LÒNG BIẾT ƠN – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

26 views

Tin Mới Nhất !

Sáng thứ Sáu, Nov. 24, 2017 theo bản tin của NBC cho biết thêm:

Johnny Bobbit Jr. là cựu chiến binh Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, nhưng lại sa vào vòng nghiện ngập ma túy, trở nên homeless…  Với hão tâm của mình, Bobbit đã  vét tất cả số tiền mình có trong túi là 20 Mỹ kim để  đi mua xăng giúp cô Kate.

Cảm động trước nghĩa cử đẹp của Bobbitt, cô Kate đã mở một trang nhà để vận động tài chánh 10,000.00 Mỹ kim giúp Bobbitt.  Ngày Nov. 23, số tiền donations là $116,00.00.  Sáng nay,  số tiền trợ giúp này tăng lên con số trên $290,00.00.

Johnny Bobbitt, Jr. đã yêu cầu cô Kate lấy xuống trang cổ động tài chánh này sáng hôm nay, Nov. 24, 2017.

*****

Theo USA Today kể lại:

Tháng 10 vừa qua (2017), Kate McClure lái ô-tô trên xa lộ I-96 và xe hết xăng. Đấy là về đêm. Sợ hãi và căng thẳng, Kate ra khỏi xe rồi đi bộ đến trạm xăng và gặp Bobbitt. Anh ấy nói Kate hãy đi trở lại xe và vào bên trong khóa tất cả cửa lại. Những phút trôi qua, Bobbitt bước đến nơi Kate với một bình chứa xăng. Bobbitt đã không nói gì về tiền nong với Kate; vả lại, Kate McClure cũng chẳng có đồng xu teng nào trong ví của mình!

Vài tuần sau, Kate trở lại nơi Bobbitt và trao tận tay anh ấy một áo khoác, găng tay, mũ và bít-tất. Hơn nữa, nàng cũng biếu Bobbitt một ít đô-la khi nàng gặp lại anh ấy.

Tuy nhiên, McClure muốn làm những gì khác hơn thế nữa! Hai tuần lễ trước, nàng cùng bạn trai, Mark D’Amico, cả hai sống tại New Jersey, bắt đầu trang GoFundMe. Họ hi vọng sẽ vận động tài chánh được $10,000 -đủ số tiền để thuê một căn phòng apartment trong suốt 12 tháng tới, mua một ô-tô cũ với chi phí xăng nhớt trong sáu tháng tới…

Câu chuyện đẹp nói trên cũng đã được một tờ báo địa phương loan tải… Thoạt đầu, con số hiện kim quyên trợ ít oi. Đầu tháng 11, số hiện kim nhận được là $769.00. Dần dần, số người tăng lên 4,000 trong ngày Thanksgiving với số tiền là $116,00. Và sáng nay, thứ Sáu ngày 24 tháng 11 số người quyên tặng hiện kim tăng lên 10,000 người với số tiền gần $300,00, trang mạng lưới Go Fund Me cho biết.

Bobbitt, 34 tuổi, nguyên là cựu quân nhân Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (Veteran – Marine Corps) anh đã được huấn luyện khoa cứu thương và phục vụ trong đơn vị cứu thương (paramedic) và cũng là nhân viên của Sở Cứu hỏa trước khi sa vào vòng nghiện ngập rồi vô gia cư…

Johnny Bobbitt Jr. about 3 years ago

*****

Một thiếu phụ tại New Jersey, người đã giúp một người vô gia cư đã kể lại chuyện thật đã xảy ra trong đời sống mình…

Khi cô này lái ô-tô trên xa lộ I-95 vùng Philadelphia thì bình chứa xăng đã cạn hết. Cô Kate McClure, 27 tuổi, trong các ngày vừa qua đã làm cuộc vận động tài chánh có tên là GoFundMe campaign để giúp một “good Samaritan” (người Sa-ma-ri nhân ái).

Đầu tháng 11 vừa rồi, xe cô cạn xăng trên xa lộ I-95. “Tại nơi ấy, tôi đã gặp Johnny”, cô Kate viết lại, “anh ấy thường ngồi bên ven đường mỗi ngày và trên tay cầm bảng. Ông ấy nhìn thấy xe tôi dừng bên đường và hiểu rằng có lẽ có chuyện gì “trục trặc” xảy ra rồi đây”. Anh ấy tiến đến gần tôi và nói rằng cô hãy vào trong xe và khóa mọi cửa xe lại nhé!” Phóng viên của AP kể lại rằng Johnny Bobbitt Jr. đã cuốc bộ vài blocks đường để đến một trạm xăng với 20 Mỹ kim và đấy là tất cả số tiền mà Johnny còn trong túi của mình.

Trạm xăng nơi Bobbitt đã đến

In this Nov. 17, 2017 photo, Johnny Bobbitt Jr., left, Kate McClure, right, and McClure’s boyfriend Mark D’Amico pose at a CITGO station in Philadelphia.   (Elizabeth Robertson/The Philadelphia Inquirer via AP)

Về phần Kate thì cô kể lại rằng trong ví của cô cũng chẳng còn một xu teng nào để hoàn trả số 20 Mỹ kim mà Bobbitt đã giúp đỡ mình trong giờ phút ấy! Tuy nhiên, sau nghĩa cử tốt đẹp của Bobbit, Kate đã quay trở lại gặp anh ấy nhiều lần và trợ giúp hiện kim, áo quần và thức ăn…

Sau vài lần thực hiện việc làm trên, Kate bèn khởi sự cuộc vận động tài chánh với hi vọng rằng với số tiền trợ giúp ấy sẽ giúp Johnny Bobbitt Jr. ,34 tuổi, về việc thuê nhà và các chi phí khác. Kate hi vọng rằng mình sẽ có thể làm những gì hơn nữa để giúp Johnny, người đã nhiệt tâm có lòng vị tha giúp cô trong ngày ấy. Cô đã viết trong trang vận động tài chánh. “Tôi tin thật sự rằng tất cả những gì Johnny Bobbitt Jr. cần đến chỉ là một tí thôi. Ước mong rằng với sự giúp đỡ của quí vị tôi có thể chuyển đến anh ấy.”

Những trợ giúp (donations) đã tuôn đổ vào từ cuộc vận động tài chánh khởi đầu do Kate nêu lên là $10,000 để giúp Bobbitt. Nay đã có 4,000 người hưởng ứng chiến dịch này vào sáng thứ Năm Thanksgiving (Nov. 23, 2017) nâng tổng số quyên góp được $116,00.00.

 

 

Video Cuộc Đời Martin Luther và Phong Trào Cải Chánh – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

153 views

Thưa quí vị:

Tính đến hôm nay, ngày 13 tháng 10 năm 2017, thì chỉ còn 18 ngày nữa là đúng 500 năm ngày kỷ niệm Phong trào Cải chánh Giáo hội do vị anh hùng đức tin Martin Luther đứng lên khởi xướng và lãnh đạo trong thế kỷ XVI tại Đức quốc…

Lutheran Hour Ministries là một mục vụ chuyên đảm trách phát sóng trên radio, ấn hành các văn phẩm Cơ-đốc, video… của Giáo hội Lutheran – Missouri Synod tại Hoa Kỳ có tín lý thuần chánh, bảo thủ. Đặc biệt, trong dịp đại lễ quan trọng này, Giáo hội Lutheran trên toàn thế giới sẽ tổ chức đại lễ tại Wittenberg, Germany vào ngày 31-10-2017 để ghi nhớ phong trào Cải chánh lớn lao này, Lutheran Hours Ministries đã thực hiện một loạt Video mang chủ đề: “A Man Named Martin Luther” gồm có 5 phần nói Anh ngữ.

A Man Named Martin – Part 3: The Movement

            https://www.lhm.org/studies/studyvideofull.asp?ID=29943&fid=2937&mode= 

(Includes subtitles in English) From Luther’s 95 Theses in 1517 to the Peace of Westphalia in 1648, God was at work in the Reformation. Fierce debates over Scripture, church doctrine, and late medieval church practice led to theological positions articulating salvation as God’s grace in action, with man being left to add nothing to his own salvation. In A Man Named Martin – Part 3: The Movement, viewers will see how the Reformation transformed European society and, eventually, left a profound impression around the globe.

Promo Video – (1:05) Session 1 – (16:04) | Session 2 – (13:38) | Session 3 – (12:21) | Session 4 – (21:15) | Session 5 – (9:42) |

Tại Việt nam, loạt video này đã được chuyển ngữ và chuyển âm sang Việt ngữ.

“Gần 500 năm trước, một tu sĩ vô danh tại một thị trấn yên bình của nước Đức đã vận động một phong trào để từ đó tạo nên sự biến đổi trong nền văn minh Phương Tây. Người này có tên là Martin Luther. Tôi rất yêu thích câu nói của ông. Ông nói rằng: “Tôi chưa bao giờ nghĩ một cơn bão như vậy lại có thể nổi lên từ thành La Mã vì một mảnh giấy. Nhưng nó đã xảy ra. Bởi vì ông đã giải phóng Phúc âm của Đức Chúa Giê-xu Christ, là Phúc âm đã bị chôn giấu gần 1.200 năm, bởi một giáo hội và bởi một quyển sách.”

Mục sư Gregory Seltz (Diễn giả của The Lutheran Hour)

Bản quyền: Lutheran Hour Ministries
Kiểm duyệt bản dịch: Đinh Hải Âu – Globalinks Việt Nam
Điều phối dự án: Nguyễn Ngọc Thiên Lộc
Dịch thuật: Lê Khắc Vinh Hiển
Giọng lồng tiếng: Thái Dương – Ly Nguyễn
Thu âm: Nguyễn Ngọc Thiên Lộc
Hậu kỳ: Hứa Việt Phương

Cuộc Đời Martin Luther và Phong Trào Cải Chánh – Video 1

Video 2

Video 3

Video 4

Video 5

 

 

 

 

Tuyên Ngôn Chung Công Giáo và Tin Lành Lutheran – Ngy. Uyên

63 views

Tuyên Ngôn Chung Công Giáo và Tin Lành Lutheran – Ngy. Uyên

11/1/2016 10:14:17 AM

Tuyên Ngôn Chung Giữa Giáo Hội Lutheran và Catholic

Một năm trước đây, ngày 31-10-2016, Giáo hoàng Phan-xi-cô đã đến thành phố Lund, Thụy Điển, để cùng với Liên hiệp Tin Lành Lutheran Thế giới tưởng niệm 500 năm cuộc cải cách của Martin Luther.  Liên hiệp này hiện qui tụ 145 Giáo Hội Tin Lành Lutheran tại 98 quốc gia trên thế giới với tổng số 74 triệu tín đồ.

Lễ tưởng niệm có chủ đề là ”Từ xung đột đến hiệp thông – Liên kết trong hi vọng” và diễn ra tại Nhà thờ chánh tòa Giáo phận Lund. Việc tham dự lễ tưởng niệm cũng là chủ đích nguyên thủy và chánh yếu chuyến viếng thăm đại kết của giáo hoàng tại Thụy Điển.

LUND. Giáo hoàng và Giám mục Chủ tịch Liên Hiệp Tin Lành Lutheran thế giới đã ký tuyên ngôn chung bày tỏ quyết tâm tìm về hiệp nhất trọn vẹn giữa hai Giáo Hội.

Vatican – Trước chuyến viếng thăm Thụy điển vào các ngày 31/10-01/11 để tưởng niệm 500 năm cuộc Cải cách của Martin Luther, vào ngày 24/09, Giáo hoàng Phan-xi-cô đã trả lời cuộc phỏng vấn của lm Ulf Jonsson, Giám đốc của Tạp chí Signum” của Dòng Tên (Jesuit). Nội dung cuộc phỏng vấn được đăng tải bằng Anh ngữ  và tiếng Ý trên tạp chí Dòng Tên  La Civilta Cattolica (Văn minh Công giáo). Trong cuộc phỏng vấn, Giáo hoàng Phanxicô đã nói về những mong đợi của ông và về sự hiệp nhất Công giáo và Tin lành Luther.

Giáo hoàng Phan-xi-cô nói: “Cuộc hành trình này là quan trọng bởi vì đây là cuộc hành trình của Giáo Hội, nó rất có tính Giáo hội trong lãnh vực đại kết. Công việc của anh chị em sẽ là một đóng góp to lớn trong việc bảo đảm cho mọi người có thể hiểu nổi”.

Chuyến tông du của Giáo hoàng Phan-xi-cô đến Thụy Điển là chuyến tông du thứ 17 của ông bên ngoài Ý-Đại-Lợi để đánh dấu kỷ niệm 500 năm Phong trào Cải Cách. Sự kiện này được coi là tuyệt điểm của những tiến bộ đại kết giữa Công Giáo và Tin Lành Lutheran sau 50 năm đối thoại, với những thành quả nổi bật như việc ký kết Tuyên bố chung về Công Chính Hóa vào năm 1999, và việc công bố một lịch sử chung về cuộc cải cách Tin Lành vào năm 2013 trong tài liệu có tựa đề “Từ xung đột đến Hiệp Thông”.

Giáo hoàng Phan-xi-cô đã yêu cầu các ký giả giúp công chúng hiểu lý do ông sang Thụy Điển tham dự kỷ niệm 500 năm phong trào Cải Cách. Ông nói như thế, vì việc  tham dự kỷ niệm 500 năm phong trào Cải Cách Tin Lành gặp nhiều chống đối ngay trong lòng Giáo Hội Công Giáo.

Những người chỉ trích việc Công Giáo tham gia vào những hoạt động mừng 500 năm cuộc Cải Cách Tin Lành nói rằng cuộc cải cách này là một cái gì đó để than khóc, chứ không phải là để tổ chức ăn mừng.

Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, là Hồng Y Gerhard Müller, nói trong một cuộc phỏng vấn ngày 31 tháng Ba, 2016 rằng “Người Công Giáo chúng ta không có lý do để ăn mừng ngày 31 tháng 10 năm 1517, ngày đó được coi là sự khởi đầu của cuộc cải cách dẫn đến sự rạn vỡ của Kitô giáo phương Tây.”

Cuộc Cải Cách Tin Lành không chỉ xâu xé Công Giáo; nhưng cũng khiến nhiệm thể của các tín hữu Ki-tô lâm vào vào những cuộc ly giáo bất tận, với hàng ngàn giáo phái Tin Lành. Phong trào Cải Cách đã dẫn đến những thập kỷ chiến tranh, cách mạng, những cuộc tranh dành vô tận và phân chia tan nát châu Âu.

Năm thế kỷ trước đây, sau khi Phong Trào Cải Cách thắng thế ở đây, theo sau cuộc phản kháng của Martin Luther, người Công Giáo bị bách hại công khai tại Thụy Điển. Những ai không chấp nhận bỏ đạo để theo Tin Lành Lutheran bị trừng phạt nặng nề: tù đày, phát vãng, treo cổ.

Tuyên ngôn được giáo hoàng và Tổng Giám mục Chủ tịch Liên hiệp Tin Lành Lutheran ký vào cuối buổi cầu nguyện tưởng niệm 500 cuộc Cải Chánh cử hành tại Nhà thờ chính tòa Lund, Thụy Điển, chiều ngày 31-10-2016.

Quốc vương và Hoàng hậu Sweeden

Lund Cathedral, Sweeden

Tuyên ngôn có đoạn viết: ”Với tuyên ngôn chung này, chúng tôi, các tín hữu Công Giáo và Lutheran, bày tỏ lòng biết ơn vui mừng đối với Thiên Chúa vì ơn được cầu nguyện chung tại Nhà thờ Chính tòa Lund nhân dịp khai mạc năm kỷ niệm 500 năm cuộc Cải Chánh. 50 năm đối thoại đại kết song phương liên tục và có thành quả giữa Công Giáo và Lutheran đã giúp vượt thắng nhiều khác biệt và đã kiến tạo sự cảm thông lẫn nhau và tín nhiệm giữa chúng tôi. Đồng thời chúng tôi đã tiến đến gần nhau trong việc cùng  phục vụ những người thân cận của chúng tôi, thường ở trong bối cảnh đau khổ và bị bách hại. Vì thế, qua đối thoại và cùng làm chứng nhân, chúng tôi không còn là những người xa lạ nữa. Trái lại, chúng tôi đã học biết rằng có nhiều điều liên hết chúng tôi hơn là những điều chia rẽ.

”Đáp lại năm điều quyết tâm, chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi cuộc đối thoại của chúng tôi để loại bỏ những chướng ngại còn tồn đọng cản trở chúng tôi tiến đến sự hiệp nhất trọn vẹn. Đặc biệt, chúng tôi dấn thân tìm kiếm những con đường vượt thắng sự phân hóa trong Thân Thể Chúa Kitô và đáp lại sự đói khát thiêng liêng của các cộng đồng chúng tôi để được nên một tại Bàn Thánh Thể. Đó là mục đích nỗ lực đại kết của chúng tôi.

”Chúng tôi kêu gọi tất cả các cộng đồng Công Giáo và Lutheran địa phương và những người đối tác đại kết của chúng tôi hãy cản đảm và có tinh thần sáng tạo, vui tươi và hy vọng trong quyết tâm của họ dấn thân trong hành trình tuyệt vời này trước mặt chúng ta.”

Giáo Hoàng Phanxicô và Giám Mục Younan Chủ tịch Liên hiệp Tin Lành Lutheran thế giới đã ký tuyên ngôn chung, và giơ cao cho mọi người hiện diện. Toàn thể mọi người đã nhiệt liệt vỗ tay hưởng ứng, trong đó có cả Quốc vương và Hoàng hậu Thụy Điển.

Một Cuộc Gặp GChưa Từng Có

Về mặt lịch sử, cuộc tưởng niệm ngày 31 tháng 10 ở Lund và Malmö không phải chỉ là danh xưng: đây là lần đầu tiên các đại diện chính thức của công giáo và Lutheran cùng gặp nhau để kỷ niệm ngày Mục sư Tiến sĩ Martin Luther viết 95 Luận đề vào năm 1517. Thánh lễ ở Malmö ngày 1 tháng 11 cũng là một sự kiện chưa từng có. Đấy cũng là lần đầu tiên một vấn đề có tầm vóc tôn giáo quan trọng như vậy xảy ra ở Thụy Điển, một trong các nước khởi xướng Cải Cách. Chính các nhà tổ chức trong Giáo phái Lutheran đã đề nghị thành phố Lund, một trong các thành phố đầu tiên đã Ky-tô giáo hóa ở Bắc Âu và là nơi sinh ra của Liên Hiệp Lutheran Thế giới năm 1947.

Trong cuộc phỏng vấn,  Giáo hoàng  cũng nói về sự liên hệ tích cực của ông với tín hữu Lutheran khi ông còn ở Buenos Aires. Theo ông, các tín hữu Công giáo có thể học từ Tin lành Luther “cải cách và Kinh Thánh.”  Luther đã muốn cải cách khi Giáo hội trong thời kỳ khó khăn, ông muốn giải quyết tình trạng phức tạp, chỉ vì tình hình chính trị nên nó trở thành chia rẽ. Cải cách là điều căn bản của Giáo hội vì Giáo hội luôn cải cách. Giáo hoàng nhìn nhận việc Luther khuyến khích tín hữu đọc Kinh Thánh thật quan trọng.

Queen Silvia of Sweden is given flowers by a boy as Pope Francis and King Carl XVI Gustaf of Sweden look on in front of the Lund Cathedral
http://i.dailymail.co.uk/i/pix/2016/10/31/16/39E9BA6100000578-3888636-image-a-11_1477932407811.jpg

Pope Francisflanked by Lutheran Archbishops Munib A. Younan (L) and Martin Junge (R)  during Monday October 31, 2016 ecumenical service in Lund cathedral, Sweden. TT News Agency/Jonas Ekstromer)

Reformation Day Tại Đức Quốc – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

55 views

Hằng năm, ngày 31 tháng 10,  Reformation Day là ngày lễ chính thức tại Đức quốc để nhớ lại Phong trào Cải chánh tại Âu châu.  Khởi đầu của phong trào này khi có một tu sĩ người Đức tên Martin Luther đóng đinh 95 luận đề tại cửa vào Đại giáo đường Wittenberg năm 1517.   Sự kiện này đã đánh dấu cho sự thay đổi về tôn giáo và xã hội tại Âu châu trong thế kỷ 16.

Ngày nay, có rất nhiều tín hữu thuộc Giáo hội Lutheran và Cải cách (Reforms) tham dự những buổi thờ phượng đặc biệt kỷ niệm ngày quan trọng ngày.  Những người khác thì có một ngày nghỉ làm việc và họ có thì giờ với gia đình hay thân hữu. Những người khác thì đi mua sắm hoặc viếng thăm những quốc gia lân cận như Austria, Poland, Switzeland.  Họ cũng cử hành Reformation Day vì đây là ngày lễ chính thức của quốc gia.

Reformation Day là ngày lễ chính thức của dân Đức tại những lãnh thổ gồm có Brandenburg, Mecklenburg-Vorpommern, Saxony, Saxony-Anhalt và Thuringia.  Tại những nơi này, bưu điện, ngân hàng, các cửa hàng và cơ sở kinh doanh đều đóng cửa. Tuy nhiên, tại những vùng đất du lịch thì các cửa hàng này vẫn mở như tại nhà ga tầu hỏa, phi cảng, những nơi dọc trên xa lộ. Lịch trình của sự vận chuyển công cộng thì tùy theo nơi nào dân cư sống và họ muốn đi du lịch.

Bối Cảnh Lịch Sử

Martin Luther là một tu sĩ La-mã Công giáo, một nhà thần học, một nhà lãnh đạo của Phong trào Cải chánh giáo hội trong thế kỷ 16. Nhiều người đã xem ông như vị “Cha già của Giáo hội Tin Lành” (Father of Protestanism). Trong suốt đời sống của ông, Martin Luther đã chứng kiến quyền uy của La-mã Công giáo  trên giáo dân cũng như ông  đã chứng kiến tệ nạn bán bùa xá tội.

Martin Luther, vị Anh Hùng Đức Tin trong Thế kỷ XVI

Bùa xá tội là những tài liệu được ban hành bởi La-mã Công giáo để tha tội cho giáo dân.  Vào thế kỷ 15 trở đi tệ nạn này đã xuất hiện tại Âu châu nhằm mục đích thu tiền của giáo dân mang về cho giáo hội trung ương tại Rome. Để diễn tả mối quan tâm của mình, Martin Luther đã đóng trên cửa Giáo đường Wittenberg 95 Luận đề vào ngày 31-10-1517.  Làm điều này, Martin Luther đã khởi đầu Phong trào Cải chánh.

Phong trào nói trên bắt đầu tại Đức quốc năm 1517, về sau thì lan tràn đến các quốc gia Âu châu và chấm dứt vào khoảng năm 1648.  Đó là giai đoạn xảy ra sự thay đổi về tôn giáo và xã hội quan trọng tại Đức và Âu châu.

Vào khoảng năm 1516-17, Johann Tetzel, một linh mục dòng Dominican và cũng là một sứ giả đặc biệt đã được triều đình  Vatican gửi đến Đức để bán bùa xá tội hầu có tiền xây đại Giáo đường St. Peter tại Rome.

Martin Luther phản đối công việc làm của Linh mục Johann Tetzel như sau “Khi nào đồng tiền rơi vào thùng thì linh hồn được giải thoát từ ngục luyện tội nhanh chóng.”  Martin Luther tuyên bố rằng chỉ có sự tha thứ duy nhất từ Thiên Chúa, những ai dạy rằng cần mua bùa xá tội để mong thoát khỏi sự trừng phạt và được cứu rỗi thì là sai trật.

Khoảng hai giờ trưa ngày 31-10-1517, Martin Luther  với cây búa trong tay ông tiến đến cánh cửa  Đại Giáo đường Wittenberg.  Tại nơi đấy, ông đóng đinh 95 Luận đề để phản kháng sự lạm dụng bán bùa xá tội theo như chiều hướng dạy dỗ và thực hành giáo lý của La-mã Công giáo thời Trung cổ.  Ngày nay,  để tưởng nhớ sự kiện quan trọng này, hằng triệu tín hữu Đấng Christ  vẫn cử hành Reformation Day này như là một biểu tượng khởi đầu của Phong trào Cải chánh Giáo hội.  Chúng ta cần nhớ rằng ngày 31-10 không phải là ngày của yêu ma quỉ quái Halloween bèn là thời điểm để nhớ lại công cuộc Cải chánh, đặc biệt như Martin Luther đã viết trong Luận đề số 62:  “Kho tàng thật của giáo hội là phúc âm thánh của sự vinh quang và hồng ân của Thiên Chúa.”

Sau khi Martin Luther đóng 95 Luận đề tại Giáo đường Wittenberg thì bản văn này đã được nhanh chóng dịch từ La-tinh ngữ sang Đức ngữ rồi được ấn hành và lưu hành cách rộng rãi.  Chỉ trong hai tuần lễ đầu, những bản văn của 95 Luận đề được phổ biến khắp cùng lãnh thể Đức quốc;  và chỉ hai tháng sau đó, cả Âu châu đều  nhận được.

Những tác phẩm giải kinh của Martin Luther đồng thời cũng được ấn hành và phổ biến đến Pháp, Anh, Ý vào đầu năm 1519.  Các sinh viên lũ lượt cùng nhau đến Wittenberg để nghe Martin Luther giảng thuyết.  Ông xuất bản quyển Giải kinh thư tín  Ga-la-ti, Thánh Vịnh.

Những ấn bản của 95 luận đề này sau đó đã được phổ biến sâu rộng tại Đức và các quốc gia lân bang Âu châu.  Ngày nay, tại Đức quốc, những học giả La-mã Công giáo  và Cải chánh giáo hội đã cùng nhau nghiên cứu. Và công trình này  sẽ được bày tỏ trong đại lễ 500 năm kỷ niệm Phong trào Cải chánh sẽ được tổ chức tại Wittenberg năm 2017.

TÌM HIỂU PHONG TRÀO CẢI CHÁNH GIÁO HỘI TRONG THẾ KỶ XVI – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

83 views

Để tìm hiểu về lịch sử Giáo hội Tin Lành Cải Chánh, rất là quan trọng, trước hết chúng ta biết rằng từ thế kỷ thứ ba trở đi, Giáo hội Công giáo La-mã tuyên bố rằng họ thừa kế tông đồ. Lời tuyên bố này có ý nghĩa gì  La mã Công giáo là một thẩm quyền duy nhất trên tất cả các hội thánh, các giáo phái bởi vì Vatican tuyên bố rằng các Giáo hoàng của La mã Công giáo là thừa kế Sứ đồ Phi-e-rơ xuyên qua mọi thời đại. Do đó, với quan điểm này La mã Công giáo là thẩm quyền tối cao duy nhất trên mọi giáo phái hay hội thánh. Theo quyển Catholic Encyclopedia, sự thừa kế tông đồ này chỉ “tìm thấy duy nhất nơi La mã Công giáo” và không có “bất cứ những Giáo hội nào tách rời ra khỏi La mã Công giáo có thể tuyên bố như trên.”

Vì thế, giáo hội thừa kế tông đồ La mã Công giáo tuyên bố rằng chỉ có họ là có thẩm quyền tối cao diễn giải Thánh Kinh, thiết lập giáo lý, cũng như tuyên bố rằng Giáo hoàng là vô ngộ (infallible) (no error -không sai trật) và chỉ có duy nhất ông ấy cầm quyền như là vị chủ chăn và là giáo sư trên tất cả các giáo dân. Vì thế, theo cái nhìn của La mã Công giáo, sự dạy dỗ, truyền thống đều từ Giáo hoàng vô ngộ mà ra và có thẩm quyền trên Thánh Kinh.  Đây là điểm khác biệt chính yếu và rất quan trọng giữa La mã công giáo và Phong trào Cải chánh.

Thế nhưng, Giáo hội La mã Công giáo không chỉ là giáo hội duy nhất tuyên bố về thẩm quyền tối cao thừa kế tông đồ. Giáo hội Chính thống giáo Đông phương cũng tuyên bố tương tự như La mã Công giáo. Thế là có sự tách rời giữa Chính thống giáo Đông phương và La mã Công giáo vào năm 1054 sau Công nguyên. Thế rồi, sau này cũng có một vài Giáo hội Cải chánh cũng thực hiện điều này và họ cũng tuyên bố là thừa kế tông đồ chẳng hạn như Anglican (Anh quốc) Episcopal (Hoa Kỳ). Họ cũng nhìn quay về hội thánh đầu tiên trong thế kỷ thứ I để tạo mối tương quan thiết lập thẩm quyền về giáo lý và thực hành.

Vì vậy, nan đề xảy ra với những ai muốn cố gắng tìm kiếm mối liên quan đến sự thừa kế tông đồ như vừa đề cập trên đây, tất cả những giáo hội này đã cố gắng muốn tìm thẩm quyền về những gì họ tin và dạy dỗ từ một nguồn sai trật để có được sự thừa kế tông đồ, thay vì họ phải tìm kiếm nguồn chính yếu từ Thánh Kinh. Thật là điều quan trọng đối với các tín hữu: Chúng ta nhận thức rằng chẳng có gì là cần thiết để các giáo hội đi tìm sự thừa kế tông đồ. Tại sao thế ?

Bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Đấng Tối cao và chính Ngài là Đấng có thẩm quyền trên mọi đức tin và sự thực hành trong Lời Chúa (Bible). Do đó, thẩm quyền tối cao của một hội thánh hay một giáo hội ngày nay không liên quan gì đến thế kỷ I với các tông đồ. Những lời giáo huấn luôn luôn phải đến trực tiếp từ Thánh Kinh. Những sự dạy dỗ có thẩm quyền trên tín hữu phải thật sự là lời chân lý, và lời dạy dỗ minh bạch từ Thánh Kinh. Đấy là lý do để chúng ta cần hiểu và phân biệt …

Trước tiên, chúng ta nhìn lại về thế kỷ thứ I, thời đại của các tông đồ, có những giáo sư giả mạo xuất hiện. Trong Tân Kinh, chúng ta đọc được những lời cảnh cáo chống lại những sự dạy dỗ sai lạc. Thời Chúa Jêsus, Ngài cũng đã cảnh cáo rằng những giáo sư giả này giống như “sói mặc lớp chiên” (Mat. 7:15) và còn có một hình ảnh khác như “lúa mì và cỏ lùng” cũng xuất hiện từ thời đại ấy cho đến ngày phán xét, Thiên Chúa sẽ phân loại kẻ được cứu và kẻ hư mất, chỉ có người đã được “tái sinh” (Mat. 13: 24-30) chỉ có những ai tin Chúa thật sẽ được cứu rổi mà thôi. Rất là quan trọng để chúng ta học lịch sử hội thánh, bởi vì các giáo sư giả đã len lõi và xâm nhập vào hội thánh.

Thứ hai, đọc lịch sử hội thánh, chúng ta cần sửa cho đúng lại điều đã nghe về từ ngữ “catholic,” đây chỉ có ý nghĩa đơn giản là “phổ thông.” Trong thế kỷ 1 và 2, trong thời đại hội thánh đầu tiên khi viết từ ngữ “catholic” thời bấy giờ có nghĩa là “hội thánh phổ thông” (universal church) hay là “thân thể Đấng Christ” (Body of Christ) gồm có những tín hữu đã được “tái sinh” những tín hữu từ mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ, các quốc gia (Khải. 5: 9; 7:9). Thế cho nên, từ ngữ “catholic” có một ý nghĩa mới và quan niệm rằng mọi hội thánh kết hiệp cùng nhau trong thân của Chúa, đấy không có ý nghĩa thuộc linh (spiritually) nhưng chỉ là hội thánh hữu hình (visible) trên toàn thế giới. Thật là sai lầm của khuynh hướng chủ trương dạy dỗ về một Giáo hội hữu hình Công giáo Thánh, ngoài giáo hội này thì không có sự cứu rỗi. Đấy là một hiểu lầm về tính chất phổ thông của La-mã công giáo trái với quan điểm của Thánh Kinh.

Trước khi Đại đế Constantine quay về với Cơ-đốc giáo (Christianity) năm 315 SC, chúng ta biết rằng Chánh quyền La-mã đã bách hại tín hữu Đấng Christ cũng như bất cứ ai nổi dậy chống lại Chánh quyền La-mã cai trị với những trừng phạt nặng nề. Thế rồi, sau khi Cơ-đốc giáo được hợp thức hóa là “hợp pháp” trên toàn Đế quốc La -mã (legal) bởi Sắc lệnh Milan do Đại đế Constantine ban hành thì có vấn đề xảy ra, nếu có bất cứ ai không đồng ý vời giáo lý của La-mã Công giáo thì họ sẽ bị xét xử đưa đến sự chấm-dứt-tương-giao (excommunication) và hậu quả là cái chết.

Các thế kỷ về sau, những tín hữu thật đã được “tái sinh” đã can đảm đứng lên phản đối về thế tục hóa (the seculariztion) của La mã Công giáo nhằm mục đích gìn giữ đức tin thuần túy chân thật từ Thánh Kinh. Cơ-đốc giáo thuần chánh của thế kỷ I giờ đây pha trộn với trần gian, và họ tuyên bố rằng La-mã Công giáo là giáo hội phổ thông trên toàn Đế quốc La mã. Chúng ta nhận thấy từ Thế kỷ 10 về sau đã từng hồi từng lúc có những anh hùng đức tin dũng cảm đã đứng lên tuyên bố lời chân thật từ Thánh Kinh trái ngược với những sự dạy dỗ sai trật của La -mã Công giáo. Trước thế kỷ 16, chúng ta thấy có John Wycliffe tại Anh, John Huss tại Czechoslovaskia, John Wessel tại Đức, những vị anh hùng đức tin này đã mất mạng sống mình để tuyên bố lời chân lý và phản đối những lời dạy dỗ sai trật của La mã Công giáo.

Sự phản kháng đối với La-mã Công giáo với sự dạy dỗ sai trật Thánh Kinh trở nên tỏ tường hơn vào thế kỷ 16 khi một Linh mục La-mã Công giáo Martin Luther đứng tại cửa Giáo đường Wittenberg, Đức quốc để treo 95 luận đề phản đối những sự dạy dỗ sai lạc và thách thức về uy quyền tối cao của của Gáo hoàng. Dĩ nhiên, Giáo hội La-mã Công giáo không chịu để yên cho Martin Luther, họ tạo ra nhiều áp lực, họ đã khủng bố tinh thần trên Luther, nhưng với lòng dũng cảm và ý chí dựa trên Lời Thánh Kinh, Luther vẫn kiên trì tiếp tục lãnh đạo phong trào Cải chánh Giáo hội mong rằng giáo hội cần quay trở về với nguồn cội đức tin dựa trên Lời Hằng Sống để dạy dỗ và thực hành Lời Chúa dạy.

Từ phong trào Cải chánh Giáo hội kể trên đã nảy ra bốn nhánh Cải chánh Giáo hội kết hiệp: Lutheran, Reformed (Cải cách), Anabaptist và Anglican. Trong thời kỳ này, Thiên Chúa đã dấy lên những thánh nhân từ nhiều quốc gia khác nhau kết hiệp lại để phục hưng giáo hội xuyên qua nhiều quốc gia cùng trở về với nguồn cội Thánh Kinh để dạy dỗ giáo lý và thực hành

Phong trào Cải Chánh Giáo hội trong thế kỷ 16 do ơn Chúa Thánh Linh soi dẫn để liệt kê bốn giáo lý căn bản mà những tín hữu của Cả Chánh Giáo hội cho rằng La mã Công giáo đã đi xa khỏi sự dạy dỗ của Thanh Kinh. Có bốn câu hỏi hay là các giáo lý được nêu ra như sau: Thế nào để một người được cứu rỗi ? Thẩm quyền tối cao tôn giáo đến từ đâu ? Hội thánh là gì ? Và nếp sống đạo thực hữu của Cơ-đốc nhân có những điểm gì ?

Trả lời cho những câu hỏi nêu trên, Martin Luhter, Ulrich Zwingli, John Calvin và John Knox đã thiết lập “Five Solas” của Cải chánh Giáo hội (La-tinh ngữ “sola” có nghĩa là “duy nhất” (alone). Năm điểm của giáo lý này là trung tâm điểm của Cải Chánh Giáo hội và cũng là năm điểm giáo lý trụ cột chính yếu trong Thánh Kinh để Cải chánh Giáo hội dựa vào đứng lên phản kháng La mã Công giáo, đòi hỏi Vatican phải thay đổi :

1-“Sola Scriptura,” hay là “Scripture Alone”: Xác nhận giáo lý Thánh Kinh là duy nhất, có giá trị thẩm quyền duy nhất cho mọi phương diện đức tin và thực hành. Chỉ có Thánh Kinh là duy nhất căn bản cho mọi sự dạy dỗ, và là thước do về giáo lý của giáo hội. Như Martin Luther đã hùng hồn xác quyết niềm tin khi ông bị áp lực mạnh mẽ khủng khiếp của La mã Công giáo buộc ông phải từ bỏ mọi sự dạy dỗ của mình trước đây, ông đã dõng dạc: “Cho đến khi nào tôi được chính Lời Chúa chinh phục và tỏ bày ra – tôi không nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và triều đình, vì họ đã mâu thuẩn lẫn nhau – lương tâm tôi được chiếm hữu bởi Lời của Thiên Chúa. Tôi không thể nào và tôi sẽ không từ khước bất cứ điều gì chống lại lương tâm tôi. Cầu Thiên Chúa giúp tôi. Amen”

2- “Sola Gratia,” Salvation by Grace Alone: Xác nhận rằng Thánh Kinh dạy sự cứu rỗi bởi duy nhất Ân phúc của Thiên Chúa và chúng ta được giải cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa bởi Ân phúc Ngài ban cho mà thôi. Ân phúc của Thiên Chúa xuyên qua Đấng Christ không chỉ là điều cần thiết mà thôi, nhưng còn có hiệu quả duy nhất cho sự cứu rỗi. Ân phúc này là một việc làm siêu nhiên của Chúa Thánh Linh, Đấng mang chúng ta đến Đấng Christ để Ngài giải thoát chúng ta ra khỏi xiềng xích của tội lỗi và mang chúng ta ra khỏi sự chết tâm linh đến sự sống vĩnh cửu.

3- “Sola Fide,” Salvation by Faith Alone”: Xác nhận giáo lý Thánh Kinh dạy rằng chúng ta được xưng nghĩa bởi Ân phúc duy nhất xuyên qua đức tin duy nhất bởi chính Đấng Christ duy nhất. Đây là đức tin trong Đấng Christ rằng sự công nghĩa được thể hiện cách toàn hão bởi sự công nghĩa toàn hão của Thiên Chúa ban cho người tin nhận Ngài.

4-“Solus Christus, “In Christ Alone”: Xác nhận giáo lý Thánh Kinh dạy rằng sự cứu rỗi chỉ được tìm thấy trong Đấng Christ và Ngài là Đấng thánh khiết vô tội, qua sự chết chuộc tội của Ngài trên thập tự giá có giá trị xưng nghĩa (chúng ta được Thiên Chúa xem là vô tội) để chúng ta được hòa giải với Chúa Cha. Phúc âm cúu rỗi sẽ không thể được truyền rao nếu công cuộc cứu rỗi của Chúa Cứu-thế không được tuyên bố và nếu chúng ta không đặt đức tin trong Đấng Christ qua sự chết đền tội của Ngài trên thập tự giá.

5- “Soli Deo Gloria, For the Glory of God Alone”: Xác nhận Giáo lý Thánh Kinh dạy rằng sự cứu rỗi của Thiên Chúa đã hoàn tất bởi Thiên Chúa vì sự vinh hiển duy nhất của Ngài. Điều này xác nhận rằng Cơ-đốc nhân phải luôn tôn vinh Thiên Chúa, phải luôn sống trọn đời mình trước mặt Thiên Chúa, dưới quyền cai quản của Thiên Chúa và dâng sự vinh quang lên Ngài mà thôi!

 

Năm cột trụ căn bản giáo lý quan trọng trên đây là lý do thúc đẩy Phong trào Cải chánh Giáo hội trong thế kỷ 16. Đấy cũng là tâm điểm mà La-mã Công giáo đã đi sai lạc trong giáo lý và lý do tại sao Phong trào Cải chánh là rất cần thiết gióng lên tiếng nói hầu cho La mã Công giáo cần phải quay về với Thánh Kinh cũng như với các hội thánh trên thế giới để sửa đổi giáo lý theo như Thánh Kinh dạy, như những nhà cải chánh đã thách thức La-mã Công giáo trong thế kỷ 16.

 

 

Siêu Bão Irma Đang Đến – Thiên Chúa Đang Ở Đâu? – Ngy. Uyên Hiệu Đính

70 views

Dân cư tại Tiểu bang Texas lội qua dòng nước bao phủ những đồ vật có giá trị (Sept. 26, 2017. Những người dân ở Florida đang chạy trốn siêu bão cấp độ 5 mang tên “Quái vật Irma” lớn rộng hơn diện tích tiểu bang của họ. Dự đoán về sức gió thổi kỷ lục 150 dặm một giờ và 200 dặm một giờ tại tâm bão, và sẽ có những cơn sóng lớn (Sept. 10, 2017 . Khói bao trùm khu bờ tây từ những trận cháy rừng tại Tiểu bang California. Một trận động đất với cường độ 8.1 làm rung chuyển Mexico vừa xảy ra  Sept. 7, 2017. Những tòa nhà sụp đổ. Nguy cơ có sóng thần sau động đất là rất cao.

Thế  nào tất cả những điều này lại xảy ra? Chúng ta phải đối phó thế nào? Và, trên hết, Thiên Chúa đang ở đâu? Kinh Thánh có câu trả lời cho điều này không?
Chúa Giê-xu phán, “Sẽ có dấu lạ xuất hiện trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Còn dưới đất, các dân lo lắng hoang mang vì biển cả gầm thét nổi sóng gió.” (Lu-ca 21:25, NVB)

Những thảm họa thiên nhiên có thể thình lình xảy ra làm cho chúng ta sửng sốt, nhưng không làm Đức Chúa Trời ngạc nhiên.
Sự gia tăng tần suất thiên tai giống như những cơn đau chuyển dạ là dấu hiệu của sự sinh nở đang đến gần. Cơ-đốc nhân không biết khi nào Đấng Christ sẽ trở lại, nhưng chúng ta tin rằng rồi chúng ta sẽ được nhìn thấy “…Con Người ngự đến trong một đám mây, đầy quyền năng và vinh quang vô cùng. Khi những việc này (biến cố, thiên tai) bắt đầu, các con hãy đứng thẳng và ngước đầu lên vì sự cứu chuộc các con đến gần rồi.” (Lu-ca 21:27-28, NVB)

Đây là lúc để “đứng thẳng và ngước đầu lên”. Hãy dâng lên những lời cầu nguyện. Dâng lên tấm lòng của các bạn. Đức Chúa Trời cao hơn cơn bão này.
Hãy chuyển sự chú ý của bạn ra khỏi những khủng hoảng và dành vài phút để tôn vinh Chúa. Đừng để chính mình bị ám ảnh bởi những rắc rối này vì nó chẳng giúp được gì cho bạn đâu. Bạn càng nhìn chằm chằm vào nó, nó càng trở nên lớn hơn. Tuy nhiên, khi bạn càng nhìn vào Đức Chúa Trời, thì nan đề sẽ nhanh chóng trở về kích thước phù hợp của nó. Đây là chiến lược của các trước giả Thánh Vịnh:
“Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi,
Sự giúp đỡ tôi đến từ đâu?
Sự giúp đỡ tôi đến từ Chúa,
Đấng sáng tạo nên trời và đất.” (Thi thiên 121:1-2, NVB)

Bạn có nhận ra điểm quan trọng trong câu Kinh Thánh này không? Tôi sẽ ngước mắt nhìn lên.

Đừng tập trung nghĩ về tình trạng hỗn độn này. Bạn không thu được gì bằng cách dán mắt vào những tai hoạ. Nhưng bạn sẽ đạt được mọi thứ bằng cách hướng mắt mình lên Chúa.
Môn đồ Phi-e-rơ đã học được bài học này trên biển Ga-li-lê. Ông là một ngư phủ. Ông có kinh nghiệm và từng trải của người đi biển, ông biết về những đợt sóng cao cao đến mười feet (trên 3 mét) có thể gây ra điều gì cho một con thuyền bé tí trên đại dương. Có lẽ, đấy là lý do tại sao ông là người duy nhất tình nguyện rời khỏi thuyền.

Khi ông nhìn thấy Chúa Giê-xu đang đi trên mặt biển giữa cơn bão tố, ông kêu lên, “Lạy Chúa, nếu thật là Ngài, xin truyền cho con đi trên mặt nước đến cùng Ngài.”
Chúa Giê-xu đáp, “Hãy đến đây.”

Phi-e-rơ liền bước ra khỏi thuyền, đi trên mặt nước đến với Đức Chúa Giê-xu. Nhưng khi thấy gió thổi, ông sợ hãi, nên bắt đầu chìm xuống nước. Ông la lên, “Chúa ơi, cứu con!” (Ma-thi-ơ 14:24-30, NVB)

Cho đến khi nào Phi-e-rơ còn tập trung vào Chúa Giê-xu, ông còn làm được những điều tưởng chừng không thể. Tuy nhiên, khi ông nhìn vào cơn bão, ông bắt đầu chìm xuống nước như một hòn đá. Nếu bạn đang chìm, đó là bởi vì bạn đang nhìn sai hướng.
Chúa có phải là Đấng tể trị trên cơn bão này không? Liệu Ngài có quyền trên nan đề của bạn không? Ngài có câu trả lời cho những câu hỏi của bạn? Theo Kinh Thánh, câu trả lời là có và chắc chắn là có!

“Đức Chúa Trời là Chúa tể duy nhất, là Đấng ban mọi phước lành, là Vua trên muôn Vua, Chúa trên muôn chúa.” (1 Ti-mô-thê 6:15, NVB)

Nếu Ngài là Đấng đang duy trì và kiểm soát muôn vật, thì sao bạn lại không nghĩ Ngài cũng có thẩm quyền trên nan đề của bạn?

Hãy cầu nguyện, và trang bị cho mình sự hiểu biết rằng Chúa đang nắm quyền kiểm soát. Đối diện với tương lai không chắc chắn bằng niềm tin xác quyết. Đức Chúa Trời tốt lành của chúng ta đang quan sát thế gian đầy sóng gió này từ Thiên đàng. Có thể chúng ta không thấy được mục đích hay kế hoạch của Ngài, nhưng Chúa của Thiên đàng đang ở trên ngôi của Ngài và đang nắm quyền tể trị trên cả vũ trụ và cuộc đời của mỗi một người trong chúng ta.

Nhiều bão tố cuồng phong đã đang và sẽ đến, nhưng Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Hãy nhìn về phía trước và lập một lối an toàn. Nhìn xung quanh và xem ai là người bạn có thể giúp đỡ. Và hãy nhìn lên Chúa Đấng yêu thương bạn. Bạn tin tưởng tương lai của mình trong tay Ngài. Và bạn phó thác cuộc đời mình cho Ngài. Amen

1 God is our refuge and strength,
an ever-present help in trouble.
2 Therefore we will not fear, though the earth give way
and the mountains fall into the heart of the sea,
3 though its waters roar and foam
and the mountains quake with their surging. (Ps 46)

Ê-sai chương 43:
1 Bây giờ, hỡi Gia-cốp! Đức Giê-hô-va là Đấng đã dựng nên ngươi, hỡi Y-sơ-ra-ên! Ngài là Đấng đã tạo thành ngươi, phán như vầy: Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. 2 Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi.