83 views

TÌM HIỂU PHONG TRÀO CẢI CHÁNH GIÁO HỘI TRONG THẾ KỶ XVI – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

Để tìm hiểu về lịch sử Giáo hội Tin Lành Cải Chánh, rất là quan trọng, trước hết chúng ta biết rằng từ thế kỷ thứ ba trở đi, Giáo hội Công giáo La-mã tuyên bố rằng họ thừa kế tông đồ. Lời tuyên bố này có ý nghĩa gì  La mã Công giáo là một thẩm quyền duy nhất trên tất cả các hội thánh, các giáo phái bởi vì Vatican tuyên bố rằng các Giáo hoàng của La mã Công giáo là thừa kế Sứ đồ Phi-e-rơ xuyên qua mọi thời đại. Do đó, với quan điểm này La mã Công giáo là thẩm quyền tối cao duy nhất trên mọi giáo phái hay hội thánh. Theo quyển Catholic Encyclopedia, sự thừa kế tông đồ này chỉ “tìm thấy duy nhất nơi La mã Công giáo” và không có “bất cứ những Giáo hội nào tách rời ra khỏi La mã Công giáo có thể tuyên bố như trên.”

Vì thế, giáo hội thừa kế tông đồ La mã Công giáo tuyên bố rằng chỉ có họ là có thẩm quyền tối cao diễn giải Thánh Kinh, thiết lập giáo lý, cũng như tuyên bố rằng Giáo hoàng là vô ngộ (infallible) (no error -không sai trật) và chỉ có duy nhất ông ấy cầm quyền như là vị chủ chăn và là giáo sư trên tất cả các giáo dân. Vì thế, theo cái nhìn của La mã Công giáo, sự dạy dỗ, truyền thống đều từ Giáo hoàng vô ngộ mà ra và có thẩm quyền trên Thánh Kinh.  Đây là điểm khác biệt chính yếu và rất quan trọng giữa La mã công giáo và Phong trào Cải chánh.

Thế nhưng, Giáo hội La mã Công giáo không chỉ là giáo hội duy nhất tuyên bố về thẩm quyền tối cao thừa kế tông đồ. Giáo hội Chính thống giáo Đông phương cũng tuyên bố tương tự như La mã Công giáo. Thế là có sự tách rời giữa Chính thống giáo Đông phương và La mã Công giáo vào năm 1054 sau Công nguyên. Thế rồi, sau này cũng có một vài Giáo hội Cải chánh cũng thực hiện điều này và họ cũng tuyên bố là thừa kế tông đồ chẳng hạn như Anglican (Anh quốc) Episcopal (Hoa Kỳ). Họ cũng nhìn quay về hội thánh đầu tiên trong thế kỷ thứ I để tạo mối tương quan thiết lập thẩm quyền về giáo lý và thực hành.

Vì vậy, nan đề xảy ra với những ai muốn cố gắng tìm kiếm mối liên quan đến sự thừa kế tông đồ như vừa đề cập trên đây, tất cả những giáo hội này đã cố gắng muốn tìm thẩm quyền về những gì họ tin và dạy dỗ từ một nguồn sai trật để có được sự thừa kế tông đồ, thay vì họ phải tìm kiếm nguồn chính yếu từ Thánh Kinh. Thật là điều quan trọng đối với các tín hữu: Chúng ta nhận thức rằng chẳng có gì là cần thiết để các giáo hội đi tìm sự thừa kế tông đồ. Tại sao thế ?

Bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Đấng Tối cao và chính Ngài là Đấng có thẩm quyền trên mọi đức tin và sự thực hành trong Lời Chúa (Bible). Do đó, thẩm quyền tối cao của một hội thánh hay một giáo hội ngày nay không liên quan gì đến thế kỷ I với các tông đồ. Những lời giáo huấn luôn luôn phải đến trực tiếp từ Thánh Kinh. Những sự dạy dỗ có thẩm quyền trên tín hữu phải thật sự là lời chân lý, và lời dạy dỗ minh bạch từ Thánh Kinh. Đấy là lý do để chúng ta cần hiểu và phân biệt …

Trước tiên, chúng ta nhìn lại về thế kỷ thứ I, thời đại của các tông đồ, có những giáo sư giả mạo xuất hiện. Trong Tân Kinh, chúng ta đọc được những lời cảnh cáo chống lại những sự dạy dỗ sai lạc. Thời Chúa Jêsus, Ngài cũng đã cảnh cáo rằng những giáo sư giả này giống như “sói mặc lớp chiên” (Mat. 7:15) và còn có một hình ảnh khác như “lúa mì và cỏ lùng” cũng xuất hiện từ thời đại ấy cho đến ngày phán xét, Thiên Chúa sẽ phân loại kẻ được cứu và kẻ hư mất, chỉ có người đã được “tái sinh” (Mat. 13: 24-30) chỉ có những ai tin Chúa thật sẽ được cứu rổi mà thôi. Rất là quan trọng để chúng ta học lịch sử hội thánh, bởi vì các giáo sư giả đã len lõi và xâm nhập vào hội thánh.

Thứ hai, đọc lịch sử hội thánh, chúng ta cần sửa cho đúng lại điều đã nghe về từ ngữ “catholic,” đây chỉ có ý nghĩa đơn giản là “phổ thông.” Trong thế kỷ 1 và 2, trong thời đại hội thánh đầu tiên khi viết từ ngữ “catholic” thời bấy giờ có nghĩa là “hội thánh phổ thông” (universal church) hay là “thân thể Đấng Christ” (Body of Christ) gồm có những tín hữu đã được “tái sinh” những tín hữu từ mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ, các quốc gia (Khải. 5: 9; 7:9). Thế cho nên, từ ngữ “catholic” có một ý nghĩa mới và quan niệm rằng mọi hội thánh kết hiệp cùng nhau trong thân của Chúa, đấy không có ý nghĩa thuộc linh (spiritually) nhưng chỉ là hội thánh hữu hình (visible) trên toàn thế giới. Thật là sai lầm của khuynh hướng chủ trương dạy dỗ về một Giáo hội hữu hình Công giáo Thánh, ngoài giáo hội này thì không có sự cứu rỗi. Đấy là một hiểu lầm về tính chất phổ thông của La-mã công giáo trái với quan điểm của Thánh Kinh.

Trước khi Đại đế Constantine quay về với Cơ-đốc giáo (Christianity) năm 315 SC, chúng ta biết rằng Chánh quyền La-mã đã bách hại tín hữu Đấng Christ cũng như bất cứ ai nổi dậy chống lại Chánh quyền La-mã cai trị với những trừng phạt nặng nề. Thế rồi, sau khi Cơ-đốc giáo được hợp thức hóa là “hợp pháp” trên toàn Đế quốc La -mã (legal) bởi Sắc lệnh Milan do Đại đế Constantine ban hành thì có vấn đề xảy ra, nếu có bất cứ ai không đồng ý vời giáo lý của La-mã Công giáo thì họ sẽ bị xét xử đưa đến sự chấm-dứt-tương-giao (excommunication) và hậu quả là cái chết.

Các thế kỷ về sau, những tín hữu thật đã được “tái sinh” đã can đảm đứng lên phản đối về thế tục hóa (the seculariztion) của La mã Công giáo nhằm mục đích gìn giữ đức tin thuần túy chân thật từ Thánh Kinh. Cơ-đốc giáo thuần chánh của thế kỷ I giờ đây pha trộn với trần gian, và họ tuyên bố rằng La-mã Công giáo là giáo hội phổ thông trên toàn Đế quốc La mã. Chúng ta nhận thấy từ Thế kỷ 10 về sau đã từng hồi từng lúc có những anh hùng đức tin dũng cảm đã đứng lên tuyên bố lời chân thật từ Thánh Kinh trái ngược với những sự dạy dỗ sai trật của La -mã Công giáo. Trước thế kỷ 16, chúng ta thấy có John Wycliffe tại Anh, John Huss tại Czechoslovaskia, John Wessel tại Đức, những vị anh hùng đức tin này đã mất mạng sống mình để tuyên bố lời chân lý và phản đối những lời dạy dỗ sai trật của La mã Công giáo.

Sự phản kháng đối với La-mã Công giáo với sự dạy dỗ sai trật Thánh Kinh trở nên tỏ tường hơn vào thế kỷ 16 khi một Linh mục La-mã Công giáo Martin Luther đứng tại cửa Giáo đường Wittenberg, Đức quốc để treo 95 luận đề phản đối những sự dạy dỗ sai lạc và thách thức về uy quyền tối cao của của Gáo hoàng. Dĩ nhiên, Giáo hội La-mã Công giáo không chịu để yên cho Martin Luther, họ tạo ra nhiều áp lực, họ đã khủng bố tinh thần trên Luther, nhưng với lòng dũng cảm và ý chí dựa trên Lời Thánh Kinh, Luther vẫn kiên trì tiếp tục lãnh đạo phong trào Cải chánh Giáo hội mong rằng giáo hội cần quay trở về với nguồn cội đức tin dựa trên Lời Hằng Sống để dạy dỗ và thực hành Lời Chúa dạy.

Từ phong trào Cải chánh Giáo hội kể trên đã nảy ra bốn nhánh Cải chánh Giáo hội kết hiệp: Lutheran, Reformed (Cải cách), Anabaptist và Anglican. Trong thời kỳ này, Thiên Chúa đã dấy lên những thánh nhân từ nhiều quốc gia khác nhau kết hiệp lại để phục hưng giáo hội xuyên qua nhiều quốc gia cùng trở về với nguồn cội Thánh Kinh để dạy dỗ giáo lý và thực hành

Phong trào Cải Chánh Giáo hội trong thế kỷ 16 do ơn Chúa Thánh Linh soi dẫn để liệt kê bốn giáo lý căn bản mà những tín hữu của Cả Chánh Giáo hội cho rằng La mã Công giáo đã đi xa khỏi sự dạy dỗ của Thanh Kinh. Có bốn câu hỏi hay là các giáo lý được nêu ra như sau: Thế nào để một người được cứu rỗi ? Thẩm quyền tối cao tôn giáo đến từ đâu ? Hội thánh là gì ? Và nếp sống đạo thực hữu của Cơ-đốc nhân có những điểm gì ?

Trả lời cho những câu hỏi nêu trên, Martin Luhter, Ulrich Zwingli, John Calvin và John Knox đã thiết lập “Five Solas” của Cải chánh Giáo hội (La-tinh ngữ “sola” có nghĩa là “duy nhất” (alone). Năm điểm của giáo lý này là trung tâm điểm của Cải Chánh Giáo hội và cũng là năm điểm giáo lý trụ cột chính yếu trong Thánh Kinh để Cải chánh Giáo hội dựa vào đứng lên phản kháng La mã Công giáo, đòi hỏi Vatican phải thay đổi :

1-“Sola Scriptura,” hay là “Scripture Alone”: Xác nhận giáo lý Thánh Kinh là duy nhất, có giá trị thẩm quyền duy nhất cho mọi phương diện đức tin và thực hành. Chỉ có Thánh Kinh là duy nhất căn bản cho mọi sự dạy dỗ, và là thước do về giáo lý của giáo hội. Như Martin Luther đã hùng hồn xác quyết niềm tin khi ông bị áp lực mạnh mẽ khủng khiếp của La mã Công giáo buộc ông phải từ bỏ mọi sự dạy dỗ của mình trước đây, ông đã dõng dạc: “Cho đến khi nào tôi được chính Lời Chúa chinh phục và tỏ bày ra – tôi không nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và triều đình, vì họ đã mâu thuẩn lẫn nhau – lương tâm tôi được chiếm hữu bởi Lời của Thiên Chúa. Tôi không thể nào và tôi sẽ không từ khước bất cứ điều gì chống lại lương tâm tôi. Cầu Thiên Chúa giúp tôi. Amen”

2- “Sola Gratia,” Salvation by Grace Alone: Xác nhận rằng Thánh Kinh dạy sự cứu rỗi bởi duy nhất Ân phúc của Thiên Chúa và chúng ta được giải cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa bởi Ân phúc Ngài ban cho mà thôi. Ân phúc của Thiên Chúa xuyên qua Đấng Christ không chỉ là điều cần thiết mà thôi, nhưng còn có hiệu quả duy nhất cho sự cứu rỗi. Ân phúc này là một việc làm siêu nhiên của Chúa Thánh Linh, Đấng mang chúng ta đến Đấng Christ để Ngài giải thoát chúng ta ra khỏi xiềng xích của tội lỗi và mang chúng ta ra khỏi sự chết tâm linh đến sự sống vĩnh cửu.

3- “Sola Fide,” Salvation by Faith Alone”: Xác nhận giáo lý Thánh Kinh dạy rằng chúng ta được xưng nghĩa bởi Ân phúc duy nhất xuyên qua đức tin duy nhất bởi chính Đấng Christ duy nhất. Đây là đức tin trong Đấng Christ rằng sự công nghĩa được thể hiện cách toàn hão bởi sự công nghĩa toàn hão của Thiên Chúa ban cho người tin nhận Ngài.

4-“Solus Christus, “In Christ Alone”: Xác nhận giáo lý Thánh Kinh dạy rằng sự cứu rỗi chỉ được tìm thấy trong Đấng Christ và Ngài là Đấng thánh khiết vô tội, qua sự chết chuộc tội của Ngài trên thập tự giá có giá trị xưng nghĩa (chúng ta được Thiên Chúa xem là vô tội) để chúng ta được hòa giải với Chúa Cha. Phúc âm cúu rỗi sẽ không thể được truyền rao nếu công cuộc cứu rỗi của Chúa Cứu-thế không được tuyên bố và nếu chúng ta không đặt đức tin trong Đấng Christ qua sự chết đền tội của Ngài trên thập tự giá.

5- “Soli Deo Gloria, For the Glory of God Alone”: Xác nhận Giáo lý Thánh Kinh dạy rằng sự cứu rỗi của Thiên Chúa đã hoàn tất bởi Thiên Chúa vì sự vinh hiển duy nhất của Ngài. Điều này xác nhận rằng Cơ-đốc nhân phải luôn tôn vinh Thiên Chúa, phải luôn sống trọn đời mình trước mặt Thiên Chúa, dưới quyền cai quản của Thiên Chúa và dâng sự vinh quang lên Ngài mà thôi!

 

Năm cột trụ căn bản giáo lý quan trọng trên đây là lý do thúc đẩy Phong trào Cải chánh Giáo hội trong thế kỷ 16. Đấy cũng là tâm điểm mà La-mã Công giáo đã đi sai lạc trong giáo lý và lý do tại sao Phong trào Cải chánh là rất cần thiết gióng lên tiếng nói hầu cho La mã Công giáo cần phải quay về với Thánh Kinh cũng như với các hội thánh trên thế giới để sửa đổi giáo lý theo như Thánh Kinh dạy, như những nhà cải chánh đã thách thức La-mã Công giáo trong thế kỷ 16.

 

 

Comments are closed.