Địa Lý Xứ Thánh – Kỳ 2 – Hiệu Đính: Ngy.Uyên

763 views

Chính Chúa đã tuyên bố rằng Ngài cố ý đặt Giê-ru-sa-lem “giữa các dân tộc, và các nước bao xung quanh nó” (Ê-xê-chi-ên 5:5). Theo bài ca của Môi-se, khi Đấng Chí Cao ban cho các nước phần sản nghiệp của chúng, Ngài thiết lập biên giới của nhiều dân tộc khác nhau “theo số của con cái Y-sơ-ra-ên” (Phục Truyền 32:8). Vì vậy ngày nay chúng ta hãy để cho vùng đất mang nhiều tính chất độc đáo nầy cao rao chân lý cứu rỗi cho cả nhân loại.

Tổng Quan Xứ Thánh

Chỉ nhìn bằng đôi mắt tò mò của những du khách lần đầu tiên đến đây, xứ thánh là một vùng đất kỳ lạ với những nét tương phản ngoạn mục. Chính Chúa gọi đây là “đất mà ta đã tìm sẵn cho chúng nó, tức là đất đượm sữa và mật ong, vinh hiển nhất trong các đất ” (Ê-xê-chi-ên 20:6)  Ở chỗ khác nó được gọi là “xứ tốt tươi ” (Phục. 8:7), “đất vinh hiển ” (Đa-ni-ên 8:9, 11:16), “đất vui thích ” (Ma-la-chi 3:12), “đất tốt đẹp ” (Thi-thiên 106:24), (Ô-sê 9:13), và “một đất tốt, cơ nghiệp quí giá của cơ binh các nước ” (Giê. 3:19). Nén chặt vào một lãnh thổ rộng không quá 50 dặm (80 km) và dài không quá 150 dặm (240 km) là những đỉnh núi phủ tuyết quanh năm và một thung lũng (depression) sâu đến nỗi nó có đủ những đặc trưng của vùng đất thấp nhất trên địa cầu. Phía tây của vùng đất nầy là vùng duyên hải Địa Trung Hải, và phía đông là vùng sa mạc A-ra-bi-a. Những thung lũng phì nhiêu của xứ Ga-li-lê tương phản với vùng núi non lởm chởm tại Negev.

Trong các chương 1-3 chúng ta sẽ xem xét vùng đất của Kinh Thánh trước hết như một toàn thể và sau đó sẽ xem xét từng phần, từ tây sang đông và từ nam lên bắc. Những miền đất khác nhau nầy có thể được quan sát từ góc độ các vai trò riêng biệt mà chúng đảm nhiệm trong lịch sử cứu chuộc.

Toàn Cảnh Xứ Thánh

Vùng đất như một toàn thể “Đất đai” như một yếu tố có ý nghĩa thần học bắt đầu từ “Địa đàng” (Paradise). Vườn Ê-đen nguyên thủy thể hiện sự hoàn hảo của ơn phước mà Đức Chúa Trời ban cho con người vừa được sáng tạo làm nơi cư ngụ. “Mảnh đất” nguyên thủy nầy cung ứng dư dật cho việc duy trì sự sống và là không gian cư trú thoải mái. Tại “vùng đất” được gọi là “địa đàng” nầy con người có thể phục vụ Đức Chúa Trời và tìm thấy mục đích đầy ý nghĩa cho cuộc đời.

Do việc ly khai khỏi Đức Chúa Trời gây ra bởi sự cố ý phản loạn của họ, người nam và người nữ đầu tiên chợt thấy chính mình bị đuổi ra khỏi vùng đất phước hạnh nầy. Khi con người sa ngã lưu lạc trên đất, sự xa cách của con người khỏi thế giới quanh mình như được tăng cường mọi chỗ. Môi trường của con người đã trở thành kẻ thù của chính mình. Chông gai và tật lê mọc dày đặc khắp nơi.

Nhưng một lời hứa thiên thượng đem lại cho con người hi vọng. Có một “vùng đất”, vùng đất đượm sữa và mật. Một nơi nào đó phía trước mà con người có thể tìm thấy vùng đất ấy, vì Đức Chúa Trời đã dự định cứu chuộc con người khỏi lời rủa sả, cho con người được trở lại vùng đất phước hạnh mà mình đã đánh mất.

Tia hi vọng nầy được diễn đạt cụ thể trong lời hứa đối với Áp-ra-ham. Bằng một hành động tối cao của đức tin, vị Tổ phụ từ bỏ vùng đất của cha ông mình và trở nên một lữ khách lang thang, luôn luôn di chuyển về phía “vùng đất” mà Đức Chúa Trời đã hứa.

Cảnh đời kiều ngụ của ông là một bức tranh hoàn hảo về hành trình đến địa đàng mà những người được cứu chuộc phải trải qua. Con người phải rời bỏ môi trường quen thuộc của chính mình và ra đi với đức tin vào lời hứa cứu chuộc của Đức Chúa Trời, hướng về một vùng đất đã được định sẵn trên thế giới.

Áp-ra-ham đến được vùng đất ấy nhưng ông chưa bao giờ sở hữu nó. Ông tận mắt thấy nơi chốn của sự khôi phục đã được hứa hẹn, nhưng ông chết và chẳng có gì hơn ngoài một khu nghĩa địa gia đình (Sáng. 23:17-20). Kinh nghiệm cả một đời người buộc ông phải nhìn xa hơn hoàn cảnh hiện sống tạm thời để hướng về “một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hê-bơ-rơ 11:10).

Đối với Môi-se và những người thuộc thế hệ ông, Đức Chúa Trời làm mới lại lời hứa khôi phục vùng đất. Ở phía bên kia sa mạc, một vùng đất đượm sữa và mật đang chờ đợi họ. Nhưng Môi-se và những người đồng thời lang thang trong sa mạc Si-na-i suốt bốn mươi năm, và Môi-se đã chết trong đức tin, không nhận lãnh được lời đã hứa (Hêb.11:39).

Dưới quyền thống lĩnh của Giô-suê dân chúng chinh phục vùng đất, nhận lãnh được một kiểu mẫu giới hạn của địa đàng mà Đức Chúa Trời đã hứa. Nhưng việc lãnh thổ nầy không phải là địa đàng tối hậu đã nhanh chóng trở nên hiển nhiên. Những người Ca-na-an chưa bị đánh bại cứ làm những “con ong lỗ” để nhắc nhở Y-sơ-ra-ên về tình trạng chưa hoàn hảo của chính nó, cũng như những giới hạn của chính vùng đất; vì làm sao có thể thực hiện được việc quay về vùng đất địa đàng với bản lĩnh đầy đủ mà dân chúng lại thiếu sự thánh khiết trọn vẹn được chứ? Tuy qua bài học trực quan rộng lớn đó tức là vùng đất của người Ca-na-an, mỗi thế hệ kế tiếp nhau học biết cách sống trong hi vọng, họ vẫn chưa sở hữu được lời hứa theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó.

Hình ảnh về tình trạng đơm hoa kết trái tương xứng với địa đàng không đạt đến hiện thực đầy trọn mãi cho đến kỷ nguyên quân chủ thống nhất của Y-sơ-ra-ên. Vị vua được xức dầu cai trị trên toàn vùng đất, và dân cư của vua vui hưởng những phước hạnh của sự thịnh vượng. Cuối cùng, dưới triều Sa-lô-môn, Y-sơ-ra-ên sở hữu vùng đất từ Ơ-phơ-rát đến biên giới Ai Cập, như Đức Chúa Trời đã hứa từ ban đầu với Áp-ra-ham (Sáng. 15:18, Xuất 23:31, I Vua 1V 4:21, 8:65, II Sử. 2: 9:26). Cảnh thái bình và thịnh vượng dưới thời trị vì của Sa-lô-môn được mô tả như một tình trạng mà trong đó mỗi người ngồi “dưới cây nho và cây vả mình ” (I Vua 4:25), một bức tranh hoà hợp lý tưởng giữa vòng con người, Đức Chúa Trời của con người, và môi trường của con người. Các nhà tiên tri mở rộng chính hình ảnh địa đàng nầy thành một tương lai xa, nói đến ngày mà mọi người đều ngồi hưởng cảnh thanh bình dưới cây nho và cây vả mình (Mi-chê 4:4, Xa-cha-ri 3:10).

Nhưng nền quân chủ thống nhất không phải là một tình trạng hoàn hảo, và nó không thể kéo dài mãi mãi. Sau thời Sa-lô-môn, dòng dõi Đa-vít, dự báo nền trị vì của “Đấng Mê-si-a” của Y-sơ-ra-ên, chỉ còn tiếp tục ở vương quốc Giu-đa. Dù vậy, nó kéo dài được bốn trăm năm, tỏ ra là một trong những đế chế lâu bền nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng vì con dân Chúa cứ ghì mài trong tội lỗi, và vì giao ước cũ có tính chất tiên báo về phước hạnh tương lai, bức tranh về một địa đàng được khôi phục, rốt lại cũng đã đến hồi kết thúc. Đất đai hoang tàn, dân cư bị lưu đày. Liên tục bất chấp luật pháp Đức Chúa Trời, họ đi đến chỗ đáng sợ là lo-ammi, nghĩa là “không-phải-dân-ta ” (Ô-sê 1:9). Vùng đất phì nhiêu mang dáng dấp của một sa mạc, một nơi ở cho chó rừng, chim cú và bò cạp. Dân chúng bị kéo đi bằng xiềng đến địa bàn cổ xưa của tổ phụ mình, bị buộc phải quay lại với kỷ nguyên trước khi lời kêu gọi của Chúa đến với Áp-ra-ham. Địa đàng, ngay cả dưới hình thức hình bóng của giao ước cũ, cũng bị tước mất khỏi họ.

Tuy nhiên, ngược lại với một suy tư sai lầm phổ biến, lịch sử của giao ước cũ không chấm dứt với cuộc lưu đày. Con dân Đức Chúa Trời không bị bỏ lại bên ngoài vùng đất đó. Thay vào đó họ trở về với Đất Hứa trước khi bức màn phủ xuống phần cuối của kỷ nguyên giao ước cũ. Đối với họ việc quay về là một kiểu phục sinh từ cõi chết, làm mới lại sự sống họ đã mất. Khải tượng của Ê-xê-chi-ên về trũng xương khô sống lại dự báo sự khôi phục Đất Hứa, và cũng đem lại khải tượng về sự phục sinh từ cõi chết. Đức Chúa Trời sẽ thở hơi sự sống vào trong các xương cốt khô kia (Ê-xê-chi-ên 37:4-6). Những người bị tản lạc sẽ trở lại với sự sống. Họ sẽ trở về vùng đất đó, vì Chúa đã tuyên bố,

Hỡi dân Ta, nầy, Ta sẽ mở mồ mả các ngươi, làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả, và Ta sẽ đem các ngươi về trong đất của Y-sơ-ra-ên: Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, khi Ta đã mở mồ mả các ngươi, và làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả: Ta sẽ đặt Thần Ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống: Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi; rồi các ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, sau khi hứa lời ấy thì đã làm thành, Đức Giê-hô-va phán vậy: (Ê-xê-chi-ên 37:12-14)

Phần bé nhỏ của “vùng đất” mà Y-sơ-ra-ên quay về để sở hữu sau chuyến lưu đày Ba-by-lôn là rất nhỏ so với phần lãnh thổ mở rộng dưới thời Sa-lô-môn năm trăm năm trước. Chưa đầy năm mươi ngàn người quay về để dự phần trong sự phục hồi “vinh hiển” nầy, một con số rất nhỏ so với cả triệu người hoặc hơn đã cùng Môi-se ra khỏi Ai Cập. Những người già cả hơn là những người có thể nhớ lại sự vinh hiển của đền thờ Sa-lô-môn bật khóc khi họ thấy nền móng khiêm tốn của đền thờ được khôi phục (Ê-xơ-ra 3:2). Đây không thể là địa đàng được! Không, không phải đâu.

Nhưng chuyến hồi hương về lại “vùng đất” và việc tái thiết đền thờ chỉ ra con đường đi. Những sự kiện nầy không chỉ mô tả việc hồi hương mà còn là sự hồi sinh, sự phục sinh từ cõi chết, tiên báo sự khôi phục hoàn toàn con dân của Đức Chúa Trời.

Năm trăm năm trước khi Đấng Christ đến, các tiên tri của thời kỳ khôi phục nầy đã tiên báo những ơn phước đến trên vùng đất nầy. Giê-ru-sa-lem sẽ là một thành phố không có tường thành, dù vậy một bức tường lửa sẽ bao quanh nó (Xa-cha-ri 2:4-5). Vinh hiển của đền thờ bé nhỏ nầy sẽ lớn hơn kiến trúc đền thờ thời Sa-lô-môn, và sự giàu có của mọi quốc gia sẽ chảy về đó (A-ghê 2:9). Tất cả đều là ngôn ngữ biểu tượng (hyperbolic) – vậy thì điều đó có ý nghĩa gì?

Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời có một điều gì đó tốt hơn. Những hoàn cảnh tốt hơn cái tốt nhất có thể tưởng tượng ra được dưới những giới hạn hiện tại của vũ trụ sẽ đặc trưng cho những phước hạnh của tương lai. Lời hứa về vùng đất sẽ được ứng nghiệm không bởi điều gì kém hơn một địa đàng được khôi phục. Như Ê-sai nói tiên tri trước đó, chó sói sẽ nằm chung với cừu con, và một đứa trẻ sẽ dẫn chúng đi (Ê-sai 11:6). Tội lỗi và sự sầu khổ sẽ không còn cai trị, và chông gai cũng không lan tràn mặt đất nữa. Khi Đấng Christ thực sự đến, góc nhìn của Kinh Thánh về “vùng đất” đã trải qua những thay đổi triệt để. Quan sát cách thức những nhà lãnh đạo Do Thái và Hê-rốt đối xử với Giăng Báp-tit, Đức Chúa Giê-xu có chiến lược mở màn chức vụ của Ngài tại Ga-li-lê của Dân Ngoại, tại Ca-bê-na-um, “bên bờ biển” (Ma-thi-ơ 4:12-16, Ê-sai 8:23-9:1). Chẳng phải vô cớ mà Chúa đã chỉ cho Áp-ra-ham thấy rằng ông phải định cư trên dải đất hẹp nối liền ba lục địa nầy. Trải qua hàng ngàn năm lữ khách từ Châu Phi đến Châu Âu, từ Châu Á đến Châu Phi đều đi dọc theo via maris, “con đường bên mé biển”. Họ đi ngang qua ngay tại địa bàn Ca-bê-na-um, và họ tiếp tục đi qua đó trong thời Đức Chúa Giê-xu. Qua việc công khai mục vụ của Ngài tại Ga-li-lê của Dân Ngoại dọc theo con đường thương mại quốc tế chính yếu, Đức Chúa Giê-xu đã đưa ra một tuyên ngôn. Vùng đất nầy sẽ đóng vai trò một bàn đạp để đến mọi quốc gia. Vương quốc của Đức Chúa Trời là một lãnh thổ vượt xa hẳn vùng biên giới cổ xưa của Y-sơ-ra-ên. Như Phao-lô đã nhận định một cách sắc bén, lời hứa của Áp-ra-ham từ góc nhìn của giao ước mới có nghĩa rằng ông sẽ là người thừa kế vũ trụ, “lấy thế gian làm cơ nghiệp” (Rô-ma 4:13). Mọi quốc gia, mọi vùng đất, và mọi dân tộc sẽ kinh nghiệm những ơn phước của nền cai trị nhân từ nầy. Những hàm ý căn bản trong việc Đức Chúa Giê-xu định hướng chức vụ mình đến toàn thế giới chứ không giới hạn trong vùng đất Ca-na-an cần phải được cảm nhận đầy đủ. Bằng cách đặt góc nhìn nầy lên chức vụ mình, Đức Chúa Giê-xu đã mở đường để “bóng” của giao ước cũ được thay thế bằng “hình” của giao ước mới. Hình ảnh việc trở về một “vùng đất” đượm sữa và mật được tập trung trên một sự hồi sinh bao trùm toàn bộ trật tự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Không chỉ xứ Ca-na-an được hưởng lợi ích trong việc thiết lập vương quốc của Đấng Mê-si-a, mà toàn thế giới sẽ vui hưởng sự đổi mới do tính chất tươi mới của sự sống nầy mang lại.

(Còn Tiếp)

Địa Lý Xứ Thánh – Kỳ 1 – Hiệu Đính: Ngy.Uyên

948 views

Lời Mở Đầu

Lời Dẫn Nhập

Phần một: Tổng Quan Xứ Thánh

1. Toàn Cảnh

2. Từ Tây Sang Đông

Vùng Duyên Hải Địa Trung HảiĐồng Bằng Phi-Li-Tin Và Sa-Rôn

Vùng Đồi Nhấp Nhô

Vùng Núi Non

Trung Tâm Thung Lũng

Sông Giô-Đanh

Vùng Bên Kia Sông Giô-Đanh

3. Từ Nam Lên Bắc

Ai-Câp Sa Mạc

Vùng Núi Non

Giu-Đê

Sa-ma-ri

Ga-li-lê

Phần hai: Những Đặc Trưng của Xứ Thánh

4. Núi Non Và Sông Ngòi

Núi non Sông ngòi

Sông Giô-đanh

5. Khí Hậu Và Thảo Mộc

Khí hậu

Thảo mộc

6. Các Thị Trấn Và Thành Phố Trong Thời Các Tổ Phụ

Si-chem

Bê-tên

Giê-ru-sa-lem

Hếp-rôn

Bê-e Sê-ba

Phê-ni-ên

7. Các Thị Trấn Và Thành Phố Trong Thời Kỳ Chinh Phục Và Thời Kỳ Các Quan Xét

Những Thành Phố Chính Của Cuộc Chinh Phục

Giê-ri-cô

Giê-ru-sa-lem

Hát-so

Phạm Vi Cai Trị Của Các Quan Xét Y-sơ-ra-ên Ga-la-át Vùng Pentapolis Phi-li-tin

8. Các Thị Trấn Và Thành Phố Trong Thời Quân Chủ Thống Nhất Và Phân Chia

Ghi-bê-a

Hếp-rôn

Giê-ru-sa-lem

Sa-ma-ri

Gít-rê-ên

Mê-ghi-đô

La-ki

9. Xứ Thánh Trong Thời Đại Tân Ước Na-xa-rét Bết-lê-hem

Vùng Sa mạc

Giu-đê

Ca-bê-na-um

Sa-ma-ri

Giê-ri-cô

Giê-ru-sa-lem

Sê-sa-rê

An-ti-ốt

Phần ba: Các góc nhìn tương phản về Xứ Thánh

10. Năm Góc Nhìn Về Xứ Thánh

Góc Nhìn Thập Tự Chinh

Góc Nhìn Hành Hương

Góc Nhìn Si-ôn-nít

Góc Nhìn Thiên Hi Niên Góc Nhìn Đổi Mới Kết Luận

Lời Mở Đầu

Các tư liệu về vùng Đất Thánh bằng tiếng Việt còn rất ít. Vì vậy, để các bạn sinh viên Thần học có cơ hội làm quen với vùng đất mang những địa danh rất quen thuộc trong khi đọc Kinh Thánh, lúc nghiên cứu với các môn học, khi nghe giảng dạy và ngay cả khi chia xẻ, chúng ta sẽ bắt đầu với cuốn Understanding The Land of The Bible của O. Palmer Robertson. Vì chưa liên lạc để xin bản quyền từ nhà xuất bản nên chúng tôi buộc lòng phải biên soạn, thêm thắt, dù không nhiều lắm, chính yếu là các bản đồ, hình ảnh, biểu bảng, chứ không dám xử dụng nguyên văn của tác giả.

Việc nghiên cứu, học hỏi để nắm vững những đặc điểm về một vùng địa lý rất đa dạng, rất nổi tiếng, rất nhiều ý nghĩa cả về lịch sử lẫn thần học, và liên tục tác động lên cục diện thế giới trải qua mọi thời đại như Xứ Thánh, không thể chỉ gói gọn trong một cuốn sách hay một khóa học được. Trái lại, nó đòi hỏi chúng ta không ngừng tự nghiên cứu, tự tìm kiếm để giải tỏa cho chính mình những mập mờ, loạng choạng mỗi khi đọc đến hay nghe đến một ngọn núi, một dòng sông, một thành phố … trong Kinh Thánh.

Không ít người “không ưa” môn Địa lý từ khi còn học phổ thông nhưng người phục vụ Chúa không được quyền nói “không ưa” với những địa danh mà mình thường xuyên gặp và rao giảng. Đức Chúa Trời đã ban Lời Ngài cho nhân loại qua một dân tộc, tại một vùng địa lý đặc thù trên thế giới nầy; vì vậy, không những cần học mà còn phải làm bạn lâu dài với Địa lý Xứ Thánh để sự hiểu biết Chúa và Lời Chúa của chúng ta thêm phong phú và vững vàng.

Tài liệu chúng ta đang có trên tay thật quá khiêm nhường cho một môn học, vai trò của nó không gì hơn là giới thiệu để bạn làm quen với Xứ Thánh và gợi cho bạn niềm say mê tìm tòi khám phá nhiều hơn trong quá trình theo Chúa và học hỏi Lời Ngài.

Cầu xin Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta trong cuộc hành trình về Xứ Thánh nầy.

Lời Dẫn Nhập

Từ những ngày xa xưa nhất của Hội Thánh Cơ Đốc cho đến ngày nay, nhiều sách hướng dẫn đã được viết nhằm giới thiệu với độc giả và du khách vùng đất của Kinh Thánh. Ngay từ thế kỷ thứ ba, Eusebius, giám mục thành Sê-sa-rê, đã viết cuốn Onomasticon mô tả vùng đất của Kinh Thánh dưới cái nhìn của một người sống tại Palestine từ rất sớm trong lịch sử Cơ Đốc giáo. Mark Twain trong quyển The Innocents Abroad (Những kẻ vô tội ở hải ngoại ) vẽ nên một bức tranh tổng quát nhưng khó thưởng ngoạn về vẻ đẹp “giả định” của Ca-na-an từ góc nhìn của một tác giả người Mỹ đi du lịch. Một quyển sách khác có tính chất kỹ thuật hơn về vùng đất nầy là cuốn The Historical Geography of the Holy Land (Địa Lý Lịch Sử Của Xứ Thánh ) của George Adam Smith, xuất bản lần đầu tiên năm 1894. Giữa thế kỷ hai mươi đã nhìn thấy một sự gần với khoa học hơn trong việc phân tích vùng đất nầy qua một vài tác phẩm như cuốn Vùng Đất Của Kinh Thánh: Một Địa Lý Lịch Sử (1962) (The land of the Bible: A Historical Geography ) của Yohanan Aharoni.

Nhưng trong tất cả các tác phẩm kể trên, các tác giả có ít nỗ lực giải thích các chân lý đặc biệt liên quan đến các mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời mà chính tính chất đa dạng của vùng đất nầy nhấn mạnh. Các sách hướng dẫn về vùng đất nầy chính yếu tập trung vào các đặc điểm địa lý và lịch sử của vùng đất, hơn là quan sát vai trò quan trọng của nhiều phần đất khác nhau trong lịch sử cứu chuộc [1]

Một ngoại lệ đáng chú ý đối với sự thiếu vắng phổ biến về suy tư thần học đối với vùng đất nầy là cuốn The Land của Walter Brueggemann (Philadelphia: Fortress Press, 1977): Công trình của Brueggemann thật sự là tour de force cố gắng thay đổi toàn bộ lịch sử và thần học Kinh Thánh lấy “vùng đất” làm yếu tố trung tâm: Trong chương mở đầu ông nói: “Đức tin của Y-sơ-ra-ên thiết yếu là một cuộc hành trình ra vào vùng đất, và đức tin của nó có thể được cơ cấu quanh những tiêu điểm nầy” (tr:14): Một chương giải thích toàn bộ luật pháp Y-sơ-ra-ên, kể cả Mười Điều Răn, theo tầm quan trọng của nó đối với vùng đất: Ngay cả việc đóng đinh Đấng Christ cũng được giải thích theo sự mất mát đất đai (tr:180):

Công trình của Brueggemann bao gồm nhiều lời đề nghị hào hứng: Cuộc sống quốc gia Y-sơ-ra-ên được phán xét theo mức sống động đức tin của nó nơi món quà đất đai của Đức Chúa Trời: Sự khô cằn trong kinh nghiệm của Y-sơ-ra-ên trong sa mạc được xem có mối tương quan về mặt thần học với sự hiếm muộn của vợ các tổ phụ (tr:29): Lời kêu gọi những người lưu đày trở về vùng đất được giải thích như một động lực phục sinh (tr:180): Những ý tưởng có ảnh hưởng sâu xa đáng được cân nhắc cẩn thận: Cùng lúc đó, Brueggemann dường như chịu ảnh hưởng quá nhiều bởi triết học hiện đại về tầm quan trọng xã hội của vùng đất và quyền sở hữu nó: Dù bổ sung góc nhìn của ông bằng cách tham chiếu đến tầm quan trọng của Kinh Tô-ra trong việc quản lý đất đai của Y-sơ-ra-ên, ông nói rằng quyền sở hữu vùng đất “đòi hỏi” một loại truyền thông mới từ Đa-vít với tư cách là vua (tr:81): Dạng thức truyền thông mới nầy chỉ “điều động và ra lệnh”, hơn là thật sự truyền thông với con người: Khi phản ánh về triển vọng lưu đày của Y-sơ-ra-ên, ông nói: “Có phải chúng ta phải học từ Marx, rằng ở trong xứ sở thiếu quan tâm đến cộng đồng sẽ chấm dứt lịch sử không?” (tr:111): Hiển nhiên rằng lời tuyên bố nầy được đưa ra trước khi chủ nghĩa cộng sản của Châu Âu bị vạch trần qua sự sụp đổ vào cuối thế kỷ thứ hai mươi: Dưới ánh sáng đó thật khó lòng nói rằng chủ nghĩa Marx dạy một lý thuyết về việc quản lý đất đai “biết quan tâm” đến con người:: Nhưng một độc giả không thể dấn sâu vào các tài liệu hoặc của Cựu Ước hoặc của Tân Ước mà không chú ý đến nhiệm vụ của các phương diện khác nhau của sự sáng tạo nhằm nhấn mạnh các chân lý cứu chuộc. A-đam bắt đầu sự sống trong một khu vườn, Giăng Báp-tít mời gọi người ta vào sa mạc, và Giê-ru-sa-lem nằm trên một ngọn núi. Chính Kinh Thánh tạo ra mối liên kết tự nhiên giữa các phước hạnh của một khu vườn và việc thử nghiệm trong một sa mạc, việc tôn cao (exaltations) độ cao của một ngọn núi và việc hạ thấp (humiliations) những vực sâu của một thung lũng. Những “giá trị” liên quan đến các trật tự sáng tạo tự nhiên nầy không hề tỏ ra dị thường hoặc áp đặt. Thay vào đó, chúng khẳng định sự thống nhất và trật tự phát xuất từ mục đích đơn lẻ của một Đức Chúa Trời trong mọi công trình của Ngài trên thế giới nầy.

Tài liệu hướng dẫn hiện tại đưa ra một tổng quan giới thiệu (introductory overview) về các đặc trưng địa lý thuộc vùng đất của Kinh Thánh, chú ý đến cách thức những yếu tố khác biệt đó ảnh hưởng đến lịch sử Kinh Thánh. Thêm vào đó, nó làm nổi bật vai trò của các đặc trưng nhất định của vùng đất trong các mục đích của Đức Chúa Trời trong lịch sử cứu chuộc. Góc nhìn nầy có thể cung ứng những câu trả lời cho các câu hỏi nhất định mà không thể khám phá bằng cách nào khác được, như : – Vị trí của vùng đất nầy quan trọng thế nào khi nằm ở bờ đông của Địa Trung Hải?

– Tại sao vùng “hoang mạc” bao quanh phần đất đông nam của xứ thánh lại quan trọng đến thế?

– Những yếu tố địa lý cũng như lịch sử nào của Y-sơ-ra-ên cổ đại đã khiến Giô-suê dẫn dân chúng tiến thẳng về Shi-chem ngay sau khi phần đất trung tâm được đánh chiếm?

– Việc Đức Chúa Giê-xu khởi đầu chức vụ tại Ca-bê-na-um có liên hệ gì với các chiều kích toàn cầu của Phúc Âm Cơ Đốc?

Những câu hỏi nầy, cùng với nhiều câu khác, có thể tìm được câu trả lời đầy đủ nhất từ tầm quan trọng của vùng đất Kinh Thánh dành cho các kế hoạch và mục đích của Đức Chúa Trời. Xem xét kỹ góc độ nầy, chúng ta có thể cảm nhận đầy đủ hơn tại sao Chúa Giê-xu lại chọn lựa địa bàn đặc biệt nầy để khai triển các mục đích cứu chuộc của Ngài.

Không phải ngẫu nhiên mà vùng đất đặc thù nầy với khung cảnh địa lý rõ nét và những nét độc đáo của nó trở thành sân khấu cho vở kịch đang mở màn của sự cứu chuộc.

(Còn Tiếp)

Israel – Một Đất Nước Thần Kỳ – Kỳ 3 – Ngy. Uyên Hiệu Đính

915 views

Chuyện Nói và Việc Làm

Khi người Israel có ý tưởng, anh ta sẽ khai triển nó ngay trong tuần. Tổng thống S. Peres, người đã sang Việt Nam, nói thế này: diễn văn rất hay, nhưng anh định làm gì tiếp theo? Tỉ phú hàng đầu Israel, ông Stef Wertheimer, lời khuyên đầu tiên với người Việt cũng là, nói ít thôi làm nhiều lên. Ông là nhà sản xuất vũ khí và chủ một khu kỹ nghệ còn đẹp hơn bất cứ công viên giải trí nào ở Việt Nam. Điều này hơi ngược với triết lý của ta khi bắt đầu kinh doanh cần phải có kinh nghiệm. Người Israel không cần kinh nghiệm, họ cần ý tưởng nhiều hơn, và sẵn sàng thất bại để học hỏi từ thất bại đó.

Người Israel mê sáng tạo, và không sợ trí tưởng tượng. Họ biết kinh nghiệm là quí báu, nhưng kinh nghiệm dễ thành lối mòn. Họ không ngại thay đổi, luôn hướng về phía trước, không nằm im gặm nhấm thành công quá khứ. Họ biết “nỗi sợ hãi mất mát luôn lớn hơn niềm hi vọng nhận được” để bỏ đi cái cũ không còn phù hợp, kiến tạo cái mới cho hiện tại và tương lai. Trong những buổi gặp mặt cựu chiến binh hay bạn học, họ ít hồi tưởng về quá khứ huy hoàng, mà hướng về tương lai phía trước. Những đơn vị thành công thì thuyết trình về công ty để người khác được chia xẻ kinh nghiệm. Họ thiết lập mạng luới làm ăn, kiến tạo những cơ hội kinh doanh.

 Tiếp Nhận Sự Khác Biệt và Đa Dạng Trong Cộng Đồng

Một trong những giá trị của Israel đó là lịch sử dân tộc. Chỉ với khoảng 8 triệu dân nhưng lại có nguồn gốc từ 70 nước trên toàn thế giới. Họ là quốc gia duy nhất thực thi luật di trú mà bất cứ người Do thái nào đặt chân lên Israel, ngay lập tức trở thành người Israel. Họ biết mời gọi những người Israel sống ở nước ngoài về phục vụ tổ quốc, trọng dụng họ và không bao giờ bỏ rơi họ. Israel thực sự là một đất nước đa dạng về văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc. Vì là nạn nhân của chủ nghĩa bài Do thái, họ thấu hiểu việc tôn trọng sự đa dạng quan trọng như thế nào. Chính vì vậy, sự khác biệt không cản trở họ, mà ngược lại là nguồn gốc của sự sáng tạo. Đây chính là cốt lõi khởi tạo mọi thành công của người Israel.

 Chuyện Người Lãnh Đạo

Sự tuyển chọn người lãnh đạo của Israel dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Sự tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “tại sao ông là xếp của tôi; tại sao tôi không phải là xếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người xếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác. Phương cách này giúp tìm ra được người lãnh đạo tốt nhất cho công ty, tập đoàn hay chính phủ. Khi có lãnh đạo giỏi, việc trao quyền cho cấp dưới được thực hiện dễ dàng hơn, các thông tin, ý tưởng, giải pháp được đến từ nhiều người hơn là chỉ một số người có trách nhiệm.

“Mục tiêu của nhà lãnh đạo là tối đa hóa sự chịu đựng – trong khi khuyến khích sự bất đồng chính kiến”. Là một phương châm lãnh đạo rất sâu sắc. Tinh thần này có nghĩa, lãnh đạo phải chịu được những điều “chướng tai gai mắt”, những khác biệt kể cả sự bất đồng, thì nhân viên mới thỏa sức sáng tạo. Còn nhân viên, phải phát huy tính tự chủ độc lập của mình, không sợ khác biệt về nhận định hay giải pháp, vì đó chính là khởi nguồn của sáng tạo. Văn hóa này đã nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu và hướng tới cái mới hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn.

Ở Israel, các sinh viên đại học nói chuyện với giảng viên, nhân viên thách thức ông chủ, binh lính chất vấn sĩ quan chỉ huy, thư ký sửa lưng các bộ trưởng, đây không phải là sự cả gan, mà là điều hết sức bình thường. Ai mới tới Israel thường có cảm giác người bản xứ rất thô lỗ, thẳng thắn quá trớn. Nhưng nếu hiểu được bản chất và văn hóa của người Israel thì ta sẽ cảm thấy thoải mái, xem đây là biểu hiện của sự chân thành.

Hiện tượng cấp dưới có quyền đưa ra quyết định vượt cấp trong quân đội Israel là kết quả của nhu cầu thực tế cũng như bản chất của lực lượng này. Việc quân đội Israel có ít chỉ huy, đồng nghĩa với việc có nhiều sáng kiến hơn đến từ binh lính cấp dưới. Mức độ trao quyền hạn vượt cấp trong quân đội Israel đã làm lãnh đạo các quốc gia ngạc nhiên.

Giá trị của binh sĩ Israel không phụ thuộc cấp bậc, mà được quyết định bởi năng lực của họ. Ở đây, bí quyết lãnh đạo là niềm tin của binh sĩ đối với chỉ huy của mình. Nếu không có niềm tin, binh lính sẽ không bao giờ tuân phục. Trong doanh trại quân đội Israel, các viên tướng, sĩ quan và binh sĩ thường ngồi quây quần bên nhau, ít kiểu cách nhưng thân thiện và bao dung hơn. Đó là tinh thần Chutpah trong quân đội. Điều này lý giải tại sao Shvat Shaket, một người đã sống nhiều năm trong quân đội, có thể giảng cho chủ tịch PayPal về sự khác nhau giữa “người tốt và kẻ xấu” trên internet. Hay nhóm kỹ sư Israel của Intel thực hiện cuộc cách mạng lật đổ kiến trúc căn bản của sản phẩm của chính công ty mình.

Tinh thần chiến đấu của người Israel không chỉ được thể hiện trên chiến trường, bàn ngoại giao, mà còn thấm vào công việc kinh doanh của họ. Khi bị ban lãnh đạo Intel từ chối giải pháp làm nguội con chíp, nhóm làm việc Israel không chịu lùi bước. Họ kiên trì thuyết phục, cải tiến và chứng minh viễn kiến và giải pháp của họ là đúng, tạo bước ngoặt cho Intel và thế giới khi đưa ra các sản phẩm chip mới. Trong những công ty khởi nghiệp, khi thất bại họ “thất bại có tính xây dựng” hay “thất bại thông minh”, cộng với tính khoan dung của người Israel, nên những người thất bại được trao cơ hội làm lại. Theo thống kê, những người đã thất bại lần đầu mà khởi nghiệp lại, tỉ lệ thành công của họ sẽ tăng lên 20%. Đây chính là lý do góp phần để Israel thành một quốc gia khởi nghiệp.

Và những điều lạ lùng khác nữa…

Mô hình kinh tế Kibbutz

Về kinh tế, mô hình kinh tế Kibbutz được thành hình từ những năm 1960 và tới nay vẫn còn duy trì hiệu quả. Đây là mô hình tổ chức nông-công nghiệp nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới chỉ có tại Israel. Hiện nay, trên toàn Israel có khoảng 270 Kibbutz, trung bình mỗi Kibbutz này có trên dưới 300 xã viên hoạt động tương tự như nhau, sở hữu những cánh đồng trồng cây nông nghiệp, trại chăn nuôi gia súc, các nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp và kỹ nghệ nhẹ như sản xuất bột giặt, đồng hồ đo nước xuất cảng, van và khớp nối ống nước… Mọi người trong gia đình các xã viên được cung cấp miễn phí hai bữa ăn sáng và trưa tại một bếp ăn tập thể giữa làng. Riêng bữa tối các gia đình tổ chức ăn ở nhà để cho gắn bó tình cảm giữa các người trong gia đình mình.

Buổi sáng, các xã viên và trẻ em trong làng lũ lượt kéo đến các nhà ăn tập thể dùng bữa sáng. Nhà ăn được tổ chức hiện đại và sang trọng với đầy đủ các món ăn cao cấp không khác mấy so với các phòng ăn ở khách sạn 5 sao. Sau khi ăn xong, mỗi người tự mang bát đĩa, khay, thìa đến những chỗ qui định để “nhóm bếp núc” rửa. Sau đó, trẻ em thì đến trường, người lớn đến nơi làm việc. Khoảng 12:30 trưa, trẻ em đi thẳng từ trường học tới nhà ăn, cùng người lớn dùng bữa trưa. Các gia đình không nhất thiết ngồi ăn cùng bàn, họ thoải mái tự chọn món mình thích và tùy chọn chỗ ngồi trong bữa ăn, không hạn chế số lượng và hoàn toàn theo nhu cầu.

Ngoài ra, còn những điều rất lý thú, việc giặt giũ của mỗi gia đình được phụ trách bởi một nhóm có tên “toán giặt giũ” đảm nhiệm. Họ phân loại quần áo, dùng máy móc giặt sấy và trả về cho mỗi gia đình theo số thứ tự được đánh dấu của mỗi nhà. Các xã viên cũng không cần mua ô-tô khi các Kibbutz luôn có sẵn khoảng 60 ô-tô con các loại để tại bãi đậu xe có người trông coi. Ai cần đi xe chỉ việc chọn xe, ghi danh trên website và tới bãi để lấy xe chạy thoải mái. Ngoài ra, các khoản như xăng, sửa chữa và các chi phí khác hoàn toàn do Kibbutz chịu trách nhiệm. Nếu thích một loại xe nào đó khác, chỉ việc yêu cầu, Kibbutz sẽ chịu trách nhiệm đi thuê xe cho bạn, và đương nhiên, hoàn toàn miễn phí, Kibbutz sẽ thanh toán cho bạn.

Kibbutz còn xây dựng và cấp nhà miễn phí cho các gia đình xã viên. Khi cần mở rộng hoặc muốn cải tạo theo ý mình, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sau đó sẽ có một nhóm xây cất nhà đến thực hiện theo yêu cầu của chủ nhà, Kibbutz thanh toán chi phí toàn bộ, bao gồm cả tiền điện, nước, gas sinh hoạt trong các gia đình. Mỗi căn nhà này ở Mashabbe Sade là một biệt thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi.

Ngày Shabbat Bình Yên

Chiều thứ Sáu, đường phố ở Haifa vắng tanh, mọi người đều về nhà để chuẩn bị một bữa tối linh đình cho gia đình. Các cửa hàng, siêu thị, công sở đều đóng cửa, kể cả các phương tiện giao thông công cộng cũng ngưng hoạt động. Người lần đầu đến Israel đúng những ngày này sẽ cảm thấy bất ngờ và hụt hẫng. Muốn mua sắm hay đi chơi đều phải chuẩn bị từ đầu hoặc giữa tuần. Nếu chẳng may phải đi đâu, phương tiện công cộng duy nhất là taxi với giá 5 shekel (tiền Israel, bằng khoảng 5.000 đồng VN).

Một người dân tên Roi Ariel cho biết, theo phong tục, người Israel thường ở nhà nghỉ ngơi, thư giãn, đọc sách, đi thăm người thân hoặc bạn bè, đi du lịch nhân ngày Shabbat. Các thanh niên tận dụng những ngày Shabbat để đi ra biển hoặc khám phá những thành phố mới. Tham gia quân đội cũng là cách các chàng trai, cô gái xứ sở này có được một khoản thu kha khá. Sau 3 năm tại ngũ, họ sẽ dùng số tiền tiết kiệm được để đi du lịch hoặc đăng ký học tại một trường đại học nào đó. Và trường đại học tại Israel thì có phẩm chất không thua kém bất cứ đại học danh tiếng nào trên thế giới.

Theo lời Erik – một người dân Israel – đàn ông Israel không có thói quen tụ tập tại các quán bar sau giờ làm việc, trừ những ngày cuối tuần. Hầu hết đều trở về nhà, giúp đỡ vợ những công việc gia đình, xem tivi, đọc sách và ngủ. Làm việc quên giờ giấc cũng là một đặc tính nữa của người Israel. Chắt chiu trong cuộc sống thường ngày, nhưng bù lại họ có niềm đam mê trong việc du lịch và khám phá những vùng đất khác. Chả thế mà người Israel được xem là dân tộc đi du lịch nhiều nhất thế giới.

Israel – Một Đất Nước Thần Kỳ – Kỳ 2 – Ngy. Uyên Hiệu Đính

780 views

“Cây Đũa Thần” Khoa Học

Một con số dễ hình dung về năng lực của “cây đũa thần” khoa học. Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người. Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua. Một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm – mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có thể đạt được. Những thực tế tại công ty NaanDanJain đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông. Đa số các nước nhập cảng kỹ nghệ của NaanDanJain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu Israel chuyên về giải pháp tưới, hệ thống kỹ nghệ kiểm soát khí hậu nhà kính, mà không biết rằng chính công ty cũng đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa học của công ty được khai triển đầu tiên, nhằm bảo đảm sự thích ứng hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt.

Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng và phần nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các trung tâm nông nghiệp lớn, kể cả các “làng nông nghiệp” (từ địa phương là kibbutz) đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về hệ thống nhà kính trước hết được thí nghiệm, kế đó sẽ áp dụng thử nghiệm với một số ít nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô hoặc từ chính ngân qũy của viện thí nghiệm, trước khi khai triển nền thương mại rộng lớn.

Tại Israel, phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp làm cho chính phủ. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp hay trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Israel cũng là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn tài chánh này đến từ ngân sách và cộng động (50 triệu USD/năm), các hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia (6 triệu USD/năm) thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng. Khu vực tư nhân cũng đóng góp khoảng 25 triệu USD hàng năm.

Nguồn này được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu tư, như hệ thống tưới nước, phân bón, nhà kính… Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu bảo đảm cho các nhà khoa học một mức ưu đãi đủ để phát huy tối đa năng lực hoạt động chuyên môn. Sự việc những chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

Việc Chăn Nuôi Tại Israel:

Nuôi cá trên sa mạc

Khi đào giếng sâu gần nửa dặm, người Israel phát giác nguồn nước ấm mặn. Một giáo sư đại học chỉ ra đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm. Các nông trại bơm nước nóng 37 độ vào trong bể, nuôi cá thương mại. Nước chứa chất thải của cá được tưới cho rau, cây ăn quả. Nhờ vậy, nước được xử dụng hai lần thay vì dùng một lần rồi bỏ.

Những con bò có giáo dục

AfiMilk chính là công ty đã mang lại cho Israel thương hiệu độc tôn trong ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là ở khu vực châu Á, nơi mà thói quen uống sữa đang được thành hình. Những kỹ nghệ của AfiMilk đã và đang giúp nông dân chăn nuôi bò sữa kiểm soát được loại sữa đang được sản xuất từ trang trại của mình; cũng như kiểm soát được liệu mỗi con bò đã có đủ dinh dưỡng không, sữa bò có đủ lượng protein tiêu chuẩn không, tình trạng sức khỏe của bò ra sao, mỗi con bò đang cần được chăm sóc thế nào… Hệ thống giám sát thời gian do AfiMilk sản xuất đã giúp người nông dân bảo đảm duy trì phẩm chất và sản lượng, đồng thời đáp ứng những nhu cầu căn bản của đàn bò sữa.

Ở trang trại nuôi bò sữa của Kibbutz Mashabbe Sade thuộc vùng Nagev, bò được huấn luyện rất kỹ, cứ đến giờ là tự tìm đường về trạm cho sữa, và chúng không cần người dẫn dắt. Họ gọi những con bò này là “bò có giáo dục”.

Tiện Nghi Cho Chó

Israel đã phát triển một loạt các sáng tạo với những sản phẩm out of the box (những sản phẩm sáng tạo không gò bó theo khuôn phép) cho những người nuôi chó trên toàn thế giới, từ DogTV (kênh truyền hình dành cho chó) đến pooper-scooper (một thiết bị mang tính cách mạng giúp bạn tự động dọn sạch phân chó – đã có trên thị trường). Khi bạn đi ra ngoài và để chú chó của mình ở nhà một mình, chúng sẽ không còn cảm thấy chán nhờ vào kênh DogTV – kênh truyền hình dành cho những chú chó đã đạt những thành công phi thường của Israel.

Và khi bạn lái xe, một việc không ai muốn làm đó là dọn phân cho những chú chó, sẽ trở nên dễ dàng với thiết bị của Paulee CleanTec: biến chất thải thành chất không màu, không mùi, bột vô hại chỉ với một nút nhấn.

Dẫn Đầu Thế Giới Về Kỹ Nghệ Sạch

Israel được xếp hạng cao nhất với chỉ số 4,34, tiếp theo là Phần Lan 4,04, Mỹ 3,67, Thụy Điển 3,55 và Đan Mạch 3,45. Trong vòng 3 năm qua, Israel có 19 công ty hoạt động trong lĩnh vực kỹ nghệ sạch được lọt vào danh sách rút gọn của GCII. “Israel đứng đầu chỉ số năm 2014. Ngoài bản năng sinh tồn, đất nước này còn tạo ra nền văn hóa, giáo dục và những nền tảng cần thiết khác để nuôi dưỡng sự sáng tạo”, báo cáo cho biết.

Những Điều Hay Về Con Người, Tính Cách, Bản Sắc Văn Hóa và Nền Kinh Tế

Kinh doanh từ niềm đam mê sáng tạo nên cái mới, chứ không hẳn vì tiền TS. Ze’ev Ganor, một giáo sư viên cao cấp tại Viện Kỹ nghệ Technion-Israel và đồng sáng lập của Urginea Ventures, người đã phân tích dữ liệu về các doanh nhân nối tiếp ở Israel từ năm 2005 nói rằng: Hiện tượng một doanh nhân thành lập nhiều công ty rất phổ biến ở Israel. Khoảng 10% doanh nhân Israel có ít nhất hai công ty trở lên, gấp đôi con số 5% ở Mỹ. Tương tự như vậy, có khoảng 7,5% các doanh nhân Israel khởi nghiệp từ ba công ty hoặc nhiều hơn, trong khi chỉ có 3,75% các doanh nhân Mỹ làm như vậy.

Chứng khoán NASDAQ, số doanh nghiệp Israel nhiều hơn cả 4 nước Nhật, Hàn, Trung Cộng và Singapore cộng lại. Không ít những ông chủ khổng lồ nhất thế giới có mặt trên đất nước này đến từ Mỹ, Ấn độ, Đức… Xuất cảng hướng vào thị trường cao cấp và sản phẩm mà Israel thu lợi nhuận cao nhất là bán các ý tưởng, được kết hợp chặt chẽ từ hai yếu tố sáng tạo và táo bạo. Và hình như, đây chính là tinh thần Do thái.

Israel có tỉ lệ doanh nhân trung bình đầu người cao hơn bất kỳ một quốc gia nào khác. Vậy đâu là những yếu tố thúc đẩy sự thành công của họ? “Tôi cho rằng giá trị chung căn bản mà những người liên tục tạo ra các công ty khởi nghiệp nằm ở sự đam mê tạo ra giá trị mới chứ không phải đam mê kiếm tiền. Kiếm tiền chỉ là một yếu tố phụ, không phải là mục tiêu phấn đấu của những doanh nhân tiếp nối ở Israel.” GS. Amnon Shashua của Đại học Hebrew, người sáng lập ra các công ty Cognitens, OrCam và Mobileye nói.

Hay như theo cách mà ông Wurtman giải thích thêm về triết lý kinh doanh của họ: “Điều khiến bạn thích thú không phải ở việc tạo ra của cải, mà là tạo ra những cái mới.” “Đặc điểm của những doanh nhân tiếp nối là họ không bao giờ ngừng liên kết những ý tưởng mới vào doanh nghiệp mới và họ coi trọng cuộc hành trình của mình hơn là cái đích. Theo tôi, đây là một đặc điểm mang tính dân tộc, vì chính cá nhân tôi đã luôn xem những gì tôi làm như là một phần của cuộc hành trình để phục vụ nhà nước Do Thái. Thành công, theo tôi, được đo bởi số lượng việc làm có phẩm chất được tạo ra.” Wurtman khẳng định.

(Còn Tiếp)

 

Israel – Một Đất Nước Thần Kỳ – Kỳ 1 – Ngy. Uyên Hiệu Đính

874 views

Israel – Một Đất Nước Thần Kỳ

Israelcó diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít. Tuy nhiên, Israel lại được mệnh danh là “thung lũng silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất cảng khoảng 3 tỉ USD nông sản, là một trong những nước xuất cảng hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm trên 60% tổng sản lượng xuất cảng rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất cảng.

Thung Lũng Arava

Địa danh này khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel. Vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học kỹ nghệ. Là phần khô hạn nhất của sa mạc Negev với lượng mưa trung bình chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm). Độ ẩm rất thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp sa mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này, là miền Trung Việt Nam với những dải đất bạc màu và đồi cát, hóa ra vẫn còn là miền đất trù phú! Ấy thế mà nơi đây mọc nên những nông trại trồng đủ loại cây từ rau củ, cây ăn trái đến bông hoa. Tất cả đều xanh tốt và cho sản lượng không nơi nào sánh được. Không có từ ngữ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng! (Garden of Eden)”

    Arava landscape

Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này.” Ấy vậy mà họ đã làm được, không chỉ làm được, mà còn tuyệt đối thành công, trồng trọt mà không cần đất và không cần nhiều nước, thoạt nghe cứ như chuyện của thế giới nào đó không phải trái đất này. Nhưng không, đó là sự thật, đó là Israel!

Thần kỳ cách họ trữ nước và xử dụng nước

Thiên đường nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa sa mạc: Bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được thiết kế để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm. Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo. Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800 mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Kỹ nghệ xử dụng nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỉ lệ tái chế tới 75%.

Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, sa mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty kỹ nghệ tưới NaanDanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng kỹ nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chuyện tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng computer, kết hợp với các thiết bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa. Tại công ty Netafim, người viết được chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc xử dụng kỹ nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng kỹ thuật cao cũng như xử dụng tối ưu năng lượng mặt trời. “Đạt năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn” (grow more with less) là khẩu hiệu của Netafim và có lẽ cũng là hướng đi của phần còn lại của thế giới, khi nguồn tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm. Israel giải quyết được sự thiếu nước, biến nước thành tài sản, đang dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải, hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp 3 lần quốc gia đứng thứ hai Tây Ban Nha.

(Còn Tiếp)

SỰ NỔI DẬY VÀ SỤP ĐỔ CỦA TÔN GIÁO BA-BY-LÔN – Thomas Hwang

816 views

                                           Babyon Tôn Giáo Bị Thiêu Hủy

Ngay sau khi Đức Chúa Trời thiết lập Kế hoạch Cứu Rỗi Vĩ Đại của Ngài trong Sáng thế ký 3:15, thế giới đã được chia thành hai nhóm và việc đó tiếp tục cho đến ngày nay. Hai nhóm này là con dân của Đức Chúa Trời và con của Satan (I Giăng 3:10).  Cuộc chiến thuộc linh giữa hai nhóm sẽ tiếp tục cho đến kết thúc thời đại này.

Tôn giáo của Satan khởi sự với tôn giáo Ba-by-lôn. Nó được sinh ra và ảnh hưởng trên nhiều tôn giáo thế giới, và bây giờ, nó tiếp tục tồn tại trong Phong Trào Thời Đại Mới và Chủ Nghĩa Đa Nguyên Tôn Giáo. Đặc biệt, Đa Nguyên Tôn Giáo là tôn giáo Ba-by-lôn cuối cùng, như chính Chúa Giê-xu nói tiên tri cách nay 2.000 năm trước (Ma-thi-ơ. 24:4-5, 24). “Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi: Kìa Đấng Christ ở đây, hay là: ở đó (Đấng Christ trong Ấn giáo hoặc Phật giáo), thì đừng tin. Vì nhiều Christ giả và tiên tri giả (những nhà lãnh đạo dạy Đa Nguyên Tôn Giáo) sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ (ảnh hưởng của họ sẽ rất lớn) nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn”. Chúa Giê-xu đang nói với chúng ta Đa Nguyên tôn Giáo sẽ xuất hiện ngay trước khi Chúa tái lâm, và ngay cả một số Cơ-Đốc nhân là những người đã được tiền định cho sự cứu rỗi và đang sống đời sống đức tin sẽ bị cám dỗ và có thể vấp ngã.

Chúa Giê-xu cho Sứ đồ Giăng thấy trong sách Khải huyền rằng phong trào Đa Nguyên Tôn Giáo nầy sẽ xuất hiện trước khi Chúa Giê-xu tái lâm. “Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa bạch. Người cỡi ngựa có một cái cung; có kẻ ban cho người một cái mão triều thiên, và người đi như kẻ đã thắng lại đến đâu cũng thắng” (Khải. 6:2). Con ngựa bạch nguyên gốc là ngựa của Chúa Jê-sus, Vua  muôn vua, sẽ cỡi khi Ngài trở lại (Khải. 19:11). Tuy nhiên, lời tiên tri ở đây cho thấy người cỡi ngựa cải trang như Chúa Jesus sẽ cỡi ngựa bạch giống một vị vua với uy quyền. Hắn sẽ thi hành sức mạnh ảnh hưởng trên thế giới và cám dỗ nhiều con cái của Đức Chúa Trời, cố bắt lấy họ.

Theo lời tiên tri này, sau cuộc Cải Chánh (1517), Đa Nguyên Tôn Giáo chịu ảnh hưởng bởi Thời Đại Ánh Sáng (thế kỷ thứ 18-19) bắt đầu xuất hiện trong Cơ-Đốc giáo. Nhưng bản chất thật của nó là tôn giáo thuộc Satan, bao gồm tinh thần của Tôn giáo Ba-by-lôn như nó vốn có. Hơn nữa, nó làm phai nhạt Tin Lành của Chúa Jesus ở trong Cơ-Đốc giáo, pha trộn nó với các tôn giáo khác để khiến nó hợp lý hấp dẫn. Đó là lý do Đa Nguyên Tôn Giáo có ảnh hưởng lớn hơn và quyền lực phá họai lớn hơn bất cứ quyền lực nào. Ngày nay, nó được thấy rõ ràng hơn bất cứ lúc nào trong 2.000 năm qua, trong lịch sử Cơ-Đốc giáo.

Trong Khải huyền chương 17 và 18, Đa Nguyên Tôn Giáo được xem như “Đại Dâm Phụ”, “Ba-by-lôn Lớn” và “Mẹ của các kỵ nữ”. Lời tiên tri cũng nói Phong Trào này sẽ bị yếu đi và thình lình bị hủy diệt vào đầu ba năm rưỡi Đại Nạn, trước khi Chúa Giê-xu đến trên đất. Khải 14;8, “Lại có một thiên sứ khác, là vị thứ hai, tiếp theo mà nói rằng: “Ba-by-lôn lớn kia đã đổ rồi, đổ rồi, vì nó khiến cho muôn dân uống rượu phẫn nộ do sự dâm loạn của nó.” Khải 17: 16, “Mười cái sừng và con thú ngươi đã thấy đó đều sẽ ghen ghét dâm phụ kia, khiến nó đơn độc loã lồ, ăn thịt nó, và thiêu sạch nó trong lửa”.

Đại khái Tôn giáo Ba-by-lon tôn giáo đã đóng vai trò tôn giáo mẹ sanh ra tất cả các tôn giáo thế giới. Trong kỳ tận thế, tất cả tôn giáo thế giới sẽ tập trung lại thành một tôn giáo, đó là, Đa Nguyên Tôn Giáo. Khi kỳ cuối cùng đến, tôn giáo giả dối  nầy sẽ bị hủy diệt. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét chủ đề này xa hơn dựa trên Kinh thánh.

Babylon tôn giáo bị diệt vào dầu đại nạn, còn Babylon chính trị bị chìm xuống biển vào cuối đại nạn. Khải 18:21 chép, “Có một thiên sứ mạnh mẽ lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển, mà rằng: “Thành lớn Ba- by-lôn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, hẳn chẳng hề thấy nó nữa”

Từ sự sa Ngã của A-đam đến Đa Nguyên Tôn Giáo

Khi A-đam sa ngã, Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tức là, Chúa Giê-xu, tuyên bố với con rắn Satan, con rồng rằng: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng 3:15). Ở đây, “dòng dõi ngươi” chỉ về dòng dõi Satan.

Sáng Thế ký 3:15 liên quan đến Kế Hoạch Cứu Rỗi Vĩ Đại của Đức Chúa trời. Con rắn cắn gót chân Dòng Dõi Người Nữ biểu thị sự kiện về thập tự giá. Thêm nữa, Dòng Dõi Người Nữ giày đạp đầu con rắn biểu thị rằng Chúa Giê-xu sẽ đổ Huyết quí báu của Ngài trên thập tự giá, hoàn thành chức vụ Cứu Rỗi của Ngài, và Satan sẽ bị đánh bại và bị diệt đời đời (Khải. 20:10). Như vậy, Sáng thế ký 3:15 là Kế Hoạch Cứu Rỗi Vĩ Đại của Đức Chúa Trời tam nhất để cứu nhân loại (Sáng. 2: 9, 17; 3: 6) khỏi sự rủa sả của sự chết, vì ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác. Kế hoạch nầy dạy Mục Đích Sáng Tạo cho tuyển dân của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên thập tự giá, đã được công bố trước Sự Sáng tạo. Kết quả, câu Kinh Thánh nầy hoạt động như xương sống của toàn bộ Kinh Thánh.

Một phân đoạn Kinh Thánh khác liên quan đến Kế Hoạch Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời là Giao ước Áp-ra-ham. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã tuyển chọn đặc biệt và kêu gọi Áp-ra-ham (2166 TC), và Đức Chúa Trời lập giao ước với Áp-ra-ham rằng ông sẽ trở thành nguồn phước (Sáng. 12:2-3); 18:18; 22:18; 26:4; 28:14). Ở đây, Giao ước là một lời hứa Đức Chúa Trời đơn phương lập với một tạo vật không có khả năng và điều kiện thực hiện lời hứa. Danh từ giao ước trong Hi-bá-lai văn có một hiệu lực ràng buộc pháp lý mạnh.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã lập giao ước với Áp-ra-ham, “các chi tộc nơi thế giới sẽ nhờ ngươi mà được phước”. Ở đây tiếng Hi-bá-lai viết dùng cho “các chi tộc” (các nước)  là Goim, có nghĩa “các Dân ngoại ngoài người Do thái”. Như thế, đây là Giao ước mà Chúa Jesus Christ sẽ đến thế giới này như dòng dõi của Áp-ra-ham (Luca 2:32; Esai. 9:1; 42:6), và Ngài sẽ đem Sự Cứu Rỗi cho hết thảy Dân ngoại. Áp-ra-ham và dòng dõi của ông là những khí dụng được chọn trong lịch sử loài người để chứng minh Mục Đích Sáng Tạo của Đức Chúa Trời.

Từ những phân đoạn Kinh Thánh này, Mục Đích Sáng Tạo (Ês. 43:7,21), Sáng thế ký 3:15 và Giao ước Áp-ra-ham (Sáng 12:2-3) là xương sống của toàn bộ Kinh Thánh. Tất cả những câu chuyện của Cựu và Tân Ước cuối cùng tập trung vào sự kiện Huyết quí báu của Con Đức Chúa Trời đổ ra trên thập tự giá và việc rao giảng Tin Lành cho các dân. Vì thế, việc Chúa Giê-xu được nhục hóa, bị đóng đinh trên thập tự giá, đổ Huyết quí báu của Ngài, sự phục sinh và Thăng Thiên của Ngài, tất cả phải xảy ra vì Mục đích Sáng Tạo.

Chúa Giê-xu, Dòng Dõi Người Nữ được thành nhục thể trên đất theo dòng dõi khởi từ A-đam và tiếp tục qua Nô-ê, Áp-ra-ham, v.v… (Sáng. 5:1-31; 11:10-26; Math. 1:17). Chúa Giê-xu đã thành nhục thể trên đất. Chúa Giê-xu đã hoàn thành chức vụ Cứu Rỗi của Ngài trên thập tự giá (Giăng 19:30). Những người tin Chân Lý nầy sẽ được tha thứ  tội lỗi của họ và họ sẽ hưởng đặc ân với tình trạng hợp pháp mới, được thay đổi từ con cái của Satan thành con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12: 3:16; 5:24). Họ sẽ ở trong chương trình huấn luyện để vâng theo Mục Đích Sáng tạo. Suốt thời kỳ huấn luyện, cuộc chiến giữa con cái Người Nữ với con cái Satan sẽ tiếp diễn.

Có một số con cái Satan trong thế giới này (I Giăng 3:10), và họ bị buộc phục vụ Satan, “chúa đời nầy” (II Cor.4:4). Hệ thống Tôn Giáo thuộc Satan đầu tiên được thành lập trên đất là Tôn Giáo Ba-by-lôn, do Nim-rốt khởi xướng. Thần mặt trời Nim-rốt, nữ thần mặt trăng Semiramis và thần sao Tham-mu, ba thần nầy được truyền bá khắp thế giới và họ được phát triển qua nhiều tên và hình thức khác nhau.

Các tôn giáo thế giới chúng ta biết rất rõ, như Ấn giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Phật giáo, Hồi giáo, đạo Sikh, v.v… thuộc loại tôn giáo cao cấp, với giáo lý và tổ chức có hệ thống. Mặt khác, từ lúc ban sơ, đạo Shaman với những hoạt động như đầu thai, chiêm tinh, lên đồng và trừ tà là phổ biến. Hoặc người ta theo thuyết tâm linh, thờ thần đá, thần cây, thần công, v.v…

Vào thế kỷ thứ 20, một phong trào thắp lên tia sáng mới trong trải nghiệm thuộc linh của những tôn giáo này. Qua hiện tượng siêu nhiên, như từng trải và kinh nghiệm thần bí, bị linh nhập, mạc khải, dị tượng, thuốc lắc, đối thoại với một linh, v.v…, phong trào này chủ đích kéo khả năng con người đến một mức độ thần thánh. Đó là Phong Trào Thời Đại Mới hiện thời đang tràn ra khắp thế giới. Phong trào này tin rằng con người có thể trở thành thần, và qua việc áp dụng các phương pháp luyện linh khác nhau như yoga, thiền, khổ tu, nhịn ăn, v.v…, nó quyến rũ người ta bước vào những từng trải thần bí. Nó thực sự là một phiên bản tôn giáo hiện đại.

Khi thế giới bị tác động bởi phong Trào Thời Đại Mới giống như vậy, Đa Nguyên Tôn giáo xuất hiện bên trong Cơ-Đốc giáo Đa Nguyên tôn giáo là dòng chảy chính của Tôn giáo Ba-by-lôn. Tất cả các tôn giáo thế giới và các tà giáo Cơ-Đốc đang mô phỏng theo mô hình khổng lồ của Đa Nguyên Tôn Giáo nầy. Những người theo Đa Nguyên Tôn Giáo tuyên bố rằng vì tất cả các tôn giáo và hệ thống niềm tin đều có Chúa Giê-xu, mặc dù khác nhau, nên mọi người sẽ được cứu rỗi bất chấp tôn giáo của họ.

Vì tư tưởng này, họ nhấn mạnh rằng, khi truyền giáo và giảng đạo, Cơ-Đốc nhân không nên nhấn mạnh đến sự qui đạo. Đa Nguyên Tôn Giáo, thay vì làm chứng Chúa Giê-xu là Cứu Chúa và là Chúa, họ tập trung vào những hoạt động phi Cơ-Đốc và từ đó loại trừ Chúa Giê-xu. Những hoạt động như vậy bao gồm những mục vụ cứu trợ, phong trào hòa bình, mục vụ cải cách xã hội, các hoạt động NGO, v.v… Họ tập trung sự tấn công của họ vào thần học Chúa Giê-xu là Cứu Chúa và là Chúa, và không có con đường cứu rỗi nào khác ngoài việc tin Chúa Jesus, giáo lý Cơ- Đốc về Tam Vị Nhất Thể và sự nhận biết Chúa Jesus – Thần tánh của Ngài, Nhân tánh của Ngài, sự phục sinh thân thể của Chúa Giê-xu, địa vị của Ngài trong Vương Quốc hầu đến, v.v… Qua việc làm như vậy, họ cố gắng làm loãng đi, làm sai lệch, và chuyển đổi bản chất của Tin lành.

Đây là những lực lượng xấu nhất và mạnh nhất thuộc Satan vào thời tận thế chống lại Mục Đích Sáng tạo và Kế Hoạch Cứu Rỗi Vĩ  Đại của Đức Chúa Trời. Phong trào nầy sẽ xuất hiện trước khi Chúa Giê-xu Christ tái lâm (Math. 24:4-5, 23-28; Khải. 6:1-2). Ngày nay, lời tiên tri của Chúa Giê-xu đã trở nên thực tế. Ví dụ, theo Đa Nguyên tôn Giáo, Dalai Latma, lãnh tụ tối cao của Phật giáo Tây Tạng sẽ là một đầy tớ của Đức Chúa Trời, và cùng một cách, những lãnh đạo của các tôn giáo thế giới sẽ thật là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Trong thực tế, Giáo hội Công Giáo La Mã đang đưa Dalai Latma làm thánh, và các thần học gia Tin lành tự do cũng đồng ý như vậy.

Chúa Giê-xu nói tiên tri rằng các tiên tri giả nầy sẽ xuất hiện và làm những dấu kỳ và phép lạ lừa dối ngay cả người được chọn – nếu có thể được. Nói cách khác, ngay cả những người đã được định làm con cái Đức Chúa Trời trước khi  được thành hình trong lòng mẹ (Thi. 139:16; Giê. 1:5; Công vụ 9:15; Rô. 8:29; Gal. 1:15; I Phi 1;2) có thể bị lừa dối và ngã vào Đa Nguyên Tôn Giáo. Thật ra, những Cơ-Đốc nhân sa ngã nầy là những xác chết thuộc linh. Đó là lý do Chúa Giê-xu phán, “nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm lại” (Math. 24:28). Một lần nữa, họ là kẻ chết thuộc linh và cho dù họ có thể ở trong Hội thánh thì họ là con cái của Satan, là những người bị hư hoại.

Đa Nguyên Tôn Giáo sẽ là dấu hiệu đe dọa lớn nhất của thời tận thế trước khi Chúa Giê-xu tái lâm. Nhưng tất cả các tôn giáo và các lực lượng thuộc Satan không phải là vạn năng và cũng không thể độc lập với Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa. Nếu không được phép từ Đức Chúa trời Toàn Năng, chúng không thể bắt đầu hành động theo ý riêng của chúng (Gióp 1:6-12; 2-6). Tất cả bọn chúng đều ở dưới uy quyền của Đức Chúa Trời và ở trong tay của Đức Chúa Trời.

 Thomas Hwang  

 

Phỏng Vấn Hội Thoại tại SGN 51/3 TV

3,318 views

Thưa quí vị:
Trong tháng Chín vừa qua, tôi đã đến Studio của SGN 51.3 TV tại thành phố Houston tham dự buổi phỏng vấn hội thoại trình bày về lịch sử Cơ-đốc giáo; nguyên nhân và hậu quả của Phong trào Cải chánh Giáo hội (Protestant Movement) do vị anh hùng đức tin Tiến sĩ Marin Luther lãnh đạo trong Thế kỷ XVI.
Mời quí vị vào link sau đây để theo dõi:

http://www.niemtin-cuocsong.com/index.php/gii-ap
Mục sư Nguyễn Hữu Ninh – Giải đáp #6

Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

Sống Cho Chúa – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

800 views

Ðọc Kinh Văn: Giăng 12: 20-24

Nhiều năm trưóc đây,các khảo cỗ gia đã đào xới tại khu vực của một di tích lâu đải cổ xưa của tôn giáo Hi-lạp tại Nhã điển vùng Elisip, và họ tìm thấy một tảng cẩm thạch có chạm khắc hình ảnh của bông lúa trông thật tuyệt đẹp! Trong thời thượng cỗ, nhân dân tại kinh thành Nhã điển, Hi-lạp có một lễ nghi thờ thần Ðê-mê-tri, trong tiếng Hi-lạp có nghĩa là “đất” (thần Thổ) Ðây là một lễ nghi được cử hành trong sự tôn nghiêm, họ dâng hạt lúa mì cho vị thần Ðê-mê-tri, tượng trưng cho sự chết và sự hồi sinh của vạn vật: chết đi trong mùa đông lạnh lẽo và sống lại trong mùa xuân tươi thắm. Lễ nghi này được cử hành hằng năm giữa một xã hội có các khuynh hưóng duy lý, duy tâm và duy vật của nhân dân Hi-lạp. Lễ nghi này đưọc cử hành nhằm mục đích nói lên niềm hi vọng ấp ủ của nhân dân Hi-lạp, dù có một số đông ngưòi không dám nói đến: niềm hi vọng mong manh về sự sống lại của con ngưòi.

Vào tuần lễ cuối cùng, trưóc khi Chúa chịu thưong khó và sống lại, có một số trí thức gia Hi-lạp xin đưọc hầu chuyện với Chúa, họ nhờ Phi-líp và Anh-rê chuyển lời yêu cầu này đến Chúa. Chúa hiểu rõ tập tục tôn giáo truyền thống của nhân dân Hi-lạp, nhân dịp này, khi gặp các nhà trí thức Hi-lạp, Chúa nói:

“Ðến giờ Con Ngưòi được vinh hiển. Ta bảo thật, hạt lúa mì phải được gieo xuống đất và chết đi thì mới sinh ra nhiều hạt lúa khác. Nhưng nếu nó không chết đi thì sẽ vẫn chỉ là một hạt lúa mà thôi.” (Giăng 12: 23-24)

Ðối với các trí thức gia Hi-lạp này, họ vốn rất quen thuộc với lễ nghi tôn giáo truyền thống của đất nước qua nghi lễ thờ thần Thổ Ðê-mê-tri, Chúa đã dùng hình ảnh hạt lúa mì được gieo trong lòng đất, nó bị vở rồi tan ra, nhưng nó lại nẩy mầm sống thành cây mạ, và cây lúa, nó đơm bông kết trái, không phải chỉ có một hạt bèn là hằng mươi, hằng trăm hạt lúa khác. Ở đây, Chúa muốn nhấn mạnh đến nguyên tắc tâm linh thật sắc sâu: nếu không phải chết đi thì sẽ không bao giờ có sự phục sinh. Nếu Chúa Cứu-thế không phải chịu thương khó và chết đi thì sẽ không bao giờ có sự kiện Ngài sẽ sống lại vẻ vang, như thế làm sao chúa có thể tuyên bố rằng “Ta là sự sống lại và sự sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống.”

Chết đây là chết với quá khứ, tội lỗi, chết với sự sống bị xác thịt lôi cuốn và chế ngự để rồi đời sống ta từ khưóc bưóc đi theo Chúa và phục vụ Ngài. Người con Chúa, nếu thế, sẽ không bao giờ chiêm nghiệm được sự sống phục sinh nhiệm mầu, và trong cõi đời tương lai họ cũng sẽ không thể nào dự phần vào sự sống lại hạnh phúc vĩnh cửu.

Hạt lúa mì chết đi trong lòng đất, nó sẽ vở ra, rồi từ đó nó sẽ nảy lên mầm sống và kết quả sung mãn.

Tiến sĩ Tống-Thượng-Tiết là con trai của Mục sư và bà Tống-Học-Liên ngưòi Trung hoa. Thuở bé, ông là một học sinh rất thông minh, nhưng tánh tình rất cứng cõi, ưong ngạnh, ông không chịu đầu phục Chúa và chỉ xem mình là nhất thiên hạ. Tốt nghiệp trung học với hạng tối ưu danh dự. Ngày 10-3-1919, ông đáp tầu thủy vượt đại dương với học bổng sang Hoa Kỳ du học tại Wesleyan University, Delaware. Năm 1923, trong số 300 sinh viên tốt nghiệp, ông là một trong số hai mươi sinh viên tốt nghiệp tối ưu, ông tốt nghiệp hạng Tối ưu Danh dự của chương trình Cử nhân bốn năm rút ngắn còn ba năm, ông đưọc phần thưỏng xuất sắc về khoa Vật lý. Báo chí địa phưong loan tin và in hình ảnh của ông trên trang đầu, một số báo chí tại Châu Âu cũng loan tin này. Ông thông minh, học giỏi nên sinh ra kiêu căng, tự mãn. Viện Đại học tại Minnesota mời ông làm phụ tá cho trưỏng phòng thí nghiệm Hóa học và trả lương cho ông hằng năm là 700 Mỹ kim, một số tiền rất lớn trong thập niên hai mươi. Một nhà hảo tâm tặng ông học bổng 1,000 Mỹ kim để theo học Y khoa tại Đại học Havard. Viện Đại học tại Columbus, Ohio cấp học bổng để ông tiếp tục theo chương trình Cao học và 300 Mỹ kim để tiêu xài. Ông chọn con đưòng thứ ba, tốt nghiệp Cao học tại Columbus, ông tiếp tục chương trình Tiến sĩ và tốt nghiệp với Luận án “The Constitution of organic magnesium compounds and the magnesium of creamer reaction” vào ngày 3-3-1926.

Ông được mời làm phụ tá giáo sư tại viện đại học này về phân khoa Hóa học. Sau những năm tại viện Đại học Columbus, ông được nổi danh qua các công tác trình nghiên cứu, một giáo sư vận động tài chánh để đưa ông sang viện đại học Ðức quốc nghiên cứu về ngành Hoá học, đồng thời ông nhận được thư của viện đại học Y khoa nổi tiếng tại Trung hoa mời ông giữ chức vụ giáo sư chánh thức về ngành Hoá học hữu cơ. Trong giai đoạn này, có cuộc tranh chiến trong nội tâm, giữa danh lợi và lợi danh, nên đi Ðức hay về Trung hoa ? Trong đêm ấy, bên tai ông có tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng nhưng đâm suốt vào con tim của Tống Thượng Tiết: “Nếu ngưoi đưọc cả thiên hạ mà mất linh hồn mình thì có ích gì?”

Sau cuộc chiến nội tâm dai dẵng ấy, cuối cùng Tiến sĩ Tống thượg Tiết đã hàng phục Chúa, ông đáp lời kêu gọi của Chúa, ông bằng lòng từ bỏ mọi danh vọng, giàu sang của trần thế. Ngày 9-10-1927, ông hồi hương, và từ chối chức vụ giáo sư viện đại học Trung hoa, ông dành thì giờ phục vụ Chúa qua công tác dạy Thánh Kinh và truyền gảng Phúc âm lộ thiên. Chúa đã đại dụng Tiến sĩ Tống Thưọng Tiết trong hơn một thập niên sau đó, từ miền Nam đến miền Bắc đem đến sự phục hưng trong các Hội thánh Trung hoa. Ðặc biệt, từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1938, Chúa đã sai Tiến sĩ Tống Thưọng Tiết đến Việt nam mang cơn mưa rào mát mẻ cho các Hội thánh Việt nam tại Hải Phòng, Hà nội, Saigon, Vĩnh Long và các Hội thánh ngưòi Trung hoa tại Cholon … Qua các sứ điệp nóng như lửa, Chúa Thánh Linh đã thăm viếng các mục sư, giáo sĩ, tín hữu … nhiều ngưòi tiến đến phía trưóc cầu nguyện ăn năn tội. Nhiều thanh niên dâng đòi sống mình để phục vụ Chúa. Hạ bán niên năm 1938, Chúa sai ông đến Thái lan, Singapore và Mã-lai, tại các nơi ấy, Chúa Thánh Linh đã dùng ông mang đến các sứ điệp phục hưng trong các Hội thánh Chúa Năm 1939, Chúa sai ông đến Java, Nam dương. Tại những nơi nào Chúa sai ông đến, tất cả các tín hữu, mục sư tại các nơi ấy đều được Chúa Thánh Linh thăm viếng.

(Viết theo tác phẩm “Tống Thượng Tiết”, tác giả: Liêu Dực Lăng, 1995)

Ðọc cuộc đời của Tiến sĩ Tống Thượng Tiết, chúng ta thấy Lời Chúa nói với các nhà trí thức Hi-lạp vào đầu kỷ nguyên I thật đúng: hạt lúa mì đưọc gieo trong lòng đất, nó bị vở tan rồi nẩy mầm sống vươn lên thành cây lúa đơm bông kết trái sung mãn. Tiến sĩ Tống Thưọng Tiết đã bằng lòng hàng phục Chúa tại chân thập tự giá, ông bằng lòng chết con ngưòi cũ, cái tôi tự phụ, kiêu ngạo để Chúa sống trong đời sống mới của ông. Con ngưòi cũ kỷ, ngạo mạn của ông đã được Chúa đổi thay. Ông bằng lòng vào Ðại chủng viện học Lời Chúa để làm một tôi tớ của Chúa. Từ đó, ông sống là sống cho Chúa, và Ngài đã sử dụng cuộc đời ông trong hơn một thập niên để mang đến sự phục hưng cho rất nhiều Hội thánh tại Trung hoa, Việt nam và các quốc gia Ðông Nam Á, có nhiều tín hữu được Chúa Thánh Linh thăm viếng để nhiệt thành trong công tác truyền đạo cá nhân, có nhiều thanh niên trẻ dâng mình cho Chúa để phục vụ Ngài chinh phục nhiều linh hồn tôi nhân cho Chúa Cứu thế đem nhiều kết quả cho vưòn nho của Nhà Chúa.

Hạt lúa mì đơn độc Tống Thượng Tiết đã chết đi tại thập tự giá, và Thiên Chúa đã làm cho hạt lúa mì ấy sống, nẩy mầm thành cây lúa và đơm bông kết hạt đầy dẫy cho Nhà Chúa. Cho đến nay, không một ai có thể đếm được đã có bao nhiêu ngàn đời sống con dân Chúa đã được quyền năng Thánh Linh đổi thay tại Trung hoa lục địa, tại Việt nam và các quốc gia Ðông Nam Á. Không một ai có thể đếm được các bông lúa nặng trĩu chín vàng, vô số hạt từ cây lúa Tiến sĩ Tống Thưọng Tiết. Amen

Tính Chất Thuộc Linh của Thời Đại Mới: Thiền, Yoga và Múa – Thomas Hwang – Ph.D.

998 views

Tính Chất Thuộc Linh của Thời Đại Mới: Thiền, Yoga và Múa

Tôn giáo Babylon tiếp tục tồn tại và phát triển trong Phong Trào thời Đại ngày nay. Đây là phong trào đang nổ bùng trong thế giới tôn giáo hiện đại.

Điều Phong Trào thời Đại Mới tìm kiếm nhiều nhất là trải nghiệm và mặc khải thuộc linh thần bí. Vì điều này, những người theo Thời Đại Mới cố gắng tìm cách đạt được những trải nghiệm thần bí, không cần biết những trải nghiệm này đến từ tôn giáo nào. Họ có thể dùng yêu thuật, bùa chú, hoặc bói bài, đoán tử vi, thôi miên, âm nhạc kích động, kinh nghiệm đặc biệt về tình dục, sự khổ hạnh, rượu và ma túy. Hoặc ngay cả họ thử dùng khoa học và kỹ thuật. Bất cứ phương pháp gì họ xử dụng, mục đích của họ, chỉ là đánh thức cái tôi thần thánh bên trong họ qua những trải nghiệm thần bí để được hiệp nhất với lực lượng thần linh của vũ trụ. Qua quá trình nầy, họ tin một người có thể trở thành thần, đó là một thực tế thần linh không còn bị thế giới vật chất giới hạn.

Đặc biệt, những kỹ thuật phổ biến nhất để đạt được trải nghiệm thần bí này được dùng trong Phong Trào Thời Đại Mới ngày nay là những âm điệu, điệu múa, yoga và thiền theo nhiều cách khác nhau, hòa theo những nghi lễ tôn giáo của họ. Cùng một thuật luyện linh hồn, cũng đã được thực hiện trong Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo, v.v… Những thuật này cũng là những phương pháp quan trọng trong việc luyện linh trong đạo Sufi, một thần bí Hồi giáo, và trong đạo Sikh, do Guru Nanak sáng lập, bằng cách pha trộn Hồi giáo và Ấn giáo. Đặc biệt trong đạo Sufi, những chức sắc khất sĩ được gọi là Sufi xuất thần bằng cách để thân thể của họ xoay quanh một điểm, tìm những trải nghiệm thần bí giao tiếp với một nhân vật thần linh nào đó. Tại Trung Đông ngày nay, hoạt động này đang trở thành phổ biến hơn và các du khách thường xem đạo sĩ Sufi này xoay tròn, giống như xem một điệu vũ truyền thống.

Ngoài ra – yoga – ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Thực tế đó là một hoạt động tôn giáo đánh thức linh của Satan. Tất cả các nguyên tắc được đề xướng trong yoga dựa trên nền tảng của năng lực con rắn. Ví dụ, trong nhiều loại yoga, Kundalini yoga là căn bản và thiêng liêng nhất. Tại đây, Kundalini nghĩa là “một con rắn cuộn lên.” Qua ngồi thiền và luyện yoga, họ giải thích, Kundalini (một con rắn cái là nữ thần Shakti trong Ấn giáo) đang thu mình nơi cuối xương sống của một người được đánh thức, và con rắn được hiệp nhất với một vị thần trong vũ trụ, đó là Shiya, một nữ thần của Ấn giáo. Những người theo Thời Đại Mới tin rằng qua việc đánh thức Kundalini, một người có thể hiệp nhất với sức mạnh thần linh của vũ trụ. Nói cách khác, con người có thể trở thành thần. Các loại yoga có phần khác nhau một chút, nhưng cuối cùng yoga tựu trung đánh thức Kundalini, năng lực con rắn.

Thiền của họ cuối cùng là một hình thức thờ Satan. Kinh Thánh dạy rằng Satan là “chúa đời này” (II Côr. 4;4), kẻ cai trị trên Tầng Trời Thứ Nhất (trái đất) và Tầng Trời Thứ Hai (vũ trụ), linh của Satan ở trong lòng loài người là những người không tin Chúa Giê-xu (Giăng 8:44; Công vụ 13:10). Điều họ gọi là Kundalini thật sự là linh của Satan, và để đánh thức nó chỉ có nghĩa là tối đa hóa bản chất linh của Satan.

Khi Satan cám dỗ Ê-va trong Vườn Ê-đen, hắn nói, “Hai ngươi chẳng chết đâu; nhưng Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác” (Sáng 3:4-5). Những người theo Thời Đại Mới tin lời nói dối của con rắn và cố gắng đạt được. Nói cách khác, họ tin rằng họ có thể sống đời đời qua sự đầu thai, vòng luân hồi: sinh, tử và đầu thai. Họ tin rằng họ có thể được giác ngộ qua việc đánh thức Kundalini, và họ có thể trở thành giống các thần bằng cách hiệp nhất chính họ với sức mạnh thần linh trong vũ trụ, thần Brahma. Điều Satan cám dỗ Ê-va đang xảy ra trong những người Thời Đại Mới ngày nay.

Những người theo Thời Đại Mới không quan tâm một người thuộc tôn giáo nào. Họ chỉ đề nghị những người hâm mộ chọn bất cứ loại phương pháp luyện tâm linh nào thích hợp cho chính họ. Những học viện luyện linh giấu tôn giáo của họ, phát những tờ quảng cáo để thu hút người ta, giới thiệu thực hành những bài tập yoga và thiền dành cho sức khỏe thể chất và tinh thần. Hầu hết mọi người nghĩ việc luyện tập này chỉ là những bài tập thể chất và tinh thần giống thể dục nhịp điệu. Họ không biết bản chất linh Satan được che giấu sâu bên trong.

Dù bất cứ cách luyện tâm linh nào họ dùng để đạt đến phạm trù tâm linh thì bản chất thật của bản thể họ gặp tại đó là con rắn xưa, con rồng. Những người đã dính líu sâu đậm phong trào này phải hiểu rõ bản chất thật của nhân vật họ gặp qua những trải nghiệm tâm linh, thì không ai khác hơn là chính Satan, tức là con rắn, con rồng. Nhưng họ che giấu sự thật này và trình bày Phong Trào Thời Đại Mới như một phong trào văn hóa để nâng cao cái tôi của con người và thay đổi thế giới thành một nơi sống tốt hơn. Khi họ làm như vậy, họ tiếp tục lừa dối và cám dỗ loài người làm thỏa mãn thần của họ là Satan.

Phong Trào Thời Đại Mới là một phong trào tôn giáo thờ Satan, kết hợp những tính chất tâm linh của các tôn giáo thuộc Satan trong lịch sử loài người thành một. Hơn nữa, nó được bắt rễ từ tôn giáo Ba- by- lôn. Khi chúng ta xem xét lịch sử thành hình và phát triển mau lẹ của phong trào này, chúng ta có thể xác nhận rằng rõ ràng nó đã thừa kế bản chất tâm linh của Tôn giáo Ba- by- lôn. Mặc dù phong trào này hứa hẹn với nhân loại sự cứu rỗi, đời sống bình an không tưởng, nhưng đây là một sự lừa dối. Bản chất thật của nó là một phong trào tâm linh thờ Satan.

Phần nhiều âm nhạc, nghệ thuật và kịch nghệ của thế giới đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phong Trào Thời Đại Mới và phong trào này đã thâm nhập sâu vào các Hội Thánh. Âm nhạc thiền Thời Đại Mới và nhịp rock của âm nhạc đã thâm nhập vào âm nhạc ngợi khen của Hội Thánh. Thậm chí ngay cả các Hội Thánh chấp nhận chương trình yoga và thiền. Một số Hội Thánh tiếp nhận những tư tưởng nhân bản xuất phát từ triết học Hi Lạp.

Nếu một người cứ hướng về những yếu tố này của Phong Trào Thời Đại Mới dài lâu, đôi mắt thuộc linh của người đó sẽ bị mù. Người đó sẽ khó tập trung vào Lời Đức Chúa Trời, khó tập trung vào huyết quí báu của Chúa Giê-xu và mối quan tâm của người đó trong việc truyền giáo dần dần xao lãng. Hơn nữa, nếu một người bị cuốn vào Phong Trào Thời Đại Mới, trong trường hợp cưc đoan, người đó sẽ cuối cùng chối Chúa Giê-xu và kết quả sẽ đến điểm người đó mất sự cứu rỗi (Xuất. 32:33; Dân. 16:33; Math. 24:23-28; Rô. 9:3; I Côr. 10:7-7; Hêb. 6:4-6; Khải. 3:1-6) . Vì thế, chúng ta phải luôn đề phòng chống lại phong trào này của Satan.

Chúng ta không thể chặn đứng hoặc phá bỏ Phong Trào Thời Đại Mới bằng những phương tiện nhân tạo. Phong trào này, theo bản chất là một phái của Tôn giáo Ba- By- lôn, là một trong những sự kiện phải xảy ra trước khi Chúa Giê-xu Christ tái lâm. Vì vậy, Cơ-Đốc nhân đang hướng đến sự tái lâm của Chúa Giê-xu Christ phải khôn ngoan và hiểu bản chất thật của Phong Trào Thời Đại Mới và sẵn sàng chống lại nó.

Thomas Hwang, Ph.D. –  South Korea 2013
Minh Khải dịch từ   “Nguồn gốc các tôn giáo” –  Ngy. Uyên:  Hiệu đính & Photos