Mắt và Chất Lutein Kỳ Diệu – Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

2,406 views

Đôi mắt là cửa sổ của linh hồn, điều này ai cũng biết nhưng không ai để ý. Cho đến khi đôi mắt bị mờ, mới vội vã đi tìm Bác sĩ Nhãn khoa.

1. con ngươi 2. củng mạc tròng trắng 3. mí mắt trên 4. giác mạc tròng đen 5. lông mi

Thông thường, người ta hay nghĩ mắt mờ chỉ cần thay gọng kính là xong ngay. Nghĩ như thế là lầm. Năm 2007, thống kê Hoa Kỳ cho biết là số người đi tune up xe hơi nhiều hơn là đi khám mắt.

– Trong ngũ giác, mắt -thị giác – là điều đáng sợ nhất vì nếu như đời đen tối thì còn gì là lẽ sống nữa.

Có ba căn bệnh đưa đến sự mù mắt là mắt cườm, áp suất trong mắt cao (glaucoma) và bệnh suy thoái của võng mạc (age related macular degeneration viết tắt là A.M.D)

Có hai chất lutein và zeaxanthin là chất carotenoids giúp chống lại các bệnh về mắt khi ta về già.

Hai chất này không có ở trong cơ thể mà phải do thức ăn và dinh dưỡng đem đến.

Chất Lutein tạo thành màu vàng của trái bắp và lòng đỏ trứng gà. So với hai năm trước đây, chỉ có 40% người Mỹ là biết đến chất này mà thôi. Ngày nay, con số đó lên tới 60%. Ngoài sự bảo vệ đôi mắt, hai chất này còn giúp trợ tim và bộ óc làm việc đắc lực thêm nữa. Đó là hai chất antioxidants chống free radicals hay tàn phá tế bào các mô.

1. Mắt Cườm (cataract).
Người tuổi già từ 65 – 74 thì 23% sẽ bị mắt cườm và nếu từ 75 trở lên, con số là 50%. Mắt cườm là khi thủy tinh thể của con mắt bị mờ dần cho đến khi trắng xóa, gây mù mắt. Cũng giống như lòng trắng trứng gà, nếu đun sôi thì từ từ sẽ biến từ thể lỏng sang thể đặc, ánh sáng làm sao xuyên qua được.

Thủy tinh thể được cấu tạo bằng chất đạm (protein) trong đó chứa lutein và zeaxanthin, tuy rằng không nhiều bằng ở trong võng mạc. Bịnh mắt cườm là so sự hấp thụ tia hồng tuyến ngoại (ultra violet) của ánh mặt trời. Do đó, nên đeo kính mát là cách để ngăn chận sự hấp thụ này.

Bịnh mắt cườm còn là bệnh của tuổi già, nhưng nguyên nhân chính là do “free radicals” mà ra. Người ta khám phá ra rằng có từ 40 đến 50 căn bệnh con người đều do free radicals gây nên.

– Người nào thường xuyên tiếp thu hai chất này sẽ giảm được bệnh mắt cườm và sẽ không bị giải phẫu mắt nữa.

Bác sĩ nhãn khoa sẽ làm lỏng thủy tinh thể bằng lutein vibration, sau đó hút hết ra và thay thế bằng một contact lens. Lutein có ở trong rau dền (spinach) mà có mấy ai ăn rau này hàng ngày đâu?

Nên kiêng cử hút thuốc, uống rượu, tránh tia X-rays khi chiếu điện. Người nào bị bệnh tiểu đường thường có cơ nguy bị bệnh mắt cườm sớm hơn là người thường.

Sau đây là những sinh tố giúp chống bệnh mắt cườm:
– Sinh tố A (cần từ 25.000 đến 50.000 I.U)
– B1, B2, B5 tức B complex 50 mg mỗi ngày,
– Sinh tố C 3000 mg uống 4 lần một ngày,
– Sinh tố E 400 I.U cần chất zinc 50 mg không quá 100 mg.

Ngoài công hiệu bảo vệ đôi mắt, chất lutein còn ngăn lượng LDL tức là chất cholesterol xấu tăng và bám vào thành mạch máu, giảm sự lưu thông của máu dẫn đến bệnh tim và stroke.

Lượng lutein còn giúp tăng sự hoạt động của não bộ. Còn chống được sự tàn phá của ánh nắng mặt trời trên làn da và ung thư da.

2.Bệnh A.M.D age related macular degeneration.

Trên võng mạc có một điểm giúp ta nhìn thật rõ chi tiết đó là điểm macula. Điểm này khi ta về già thường bị suy thoái dẫn đến mù mắt.

Do free radicals tàn phá, điểm macula chứa đựng rất nhiều hai chất lutein và zeaxanthin, nên càng về già phải cung cấp hai chất này cho đầy đủ.
Thí nghiệm cho thấy những người già dùng 10 mg lutein mỗi ngày giảm bệnh này rất nhiều. Ngoài ra nên ăn nhiều rau xanh như rau dền (spinach), rau broccoli, rau cải (bok choy).

3. Bệnh Glaucoma
Bịnh này do áp suất trong con mắt từ từ tăng lên làm hư hại dây thần kinh mắt gây sự mù lòa, nếu không chữa kịp thời. Đó là nguyên nhân thứ nhì gây sự mù mắt bịnh mắt cườm. Xảy ra sau tuổi 60 có thể sớm hơn từ 40 tuổi, do thiếu dinh dưỡng, stress và bệnh tiểu đường.

Áp suất trong con mắt khác với áp suất trong mạch máu. Có thể xảy ra từ từ gọi là kinh niên hoặc cấp tính.

Triệu chứng gồm có mắt mờ, mắt nhìn hạn hẹp (tunnel vision), nhức mắt, buồn nôn, mắt đỏ.

– Chỉ có bác sĩ nhãn khoa mới định được bệnh này. Cách chữa dùng thuốc nhỏ mắt như timolol maleate làm giảm áp suất, có người phải nhỏ suốt đời.

Nếu không thuyên giảm một ngày nào đó bệnh trở thành cấp tính, áp suất tăng quá cao, nước trong mắt không có lối thoát phải đưa đi nhà thương cấp cứu liền để chữa trị bằng tia laser nếu không sẽ bị mù tức khắc.

– Cách ngăn ngừa: Nên ăn rau trái ăn nhiều hạt nguyên chất như bánh mì nâu, ít dùng chất béo, tránh uống cà phê, rượu, thuốc lá.

Dùng thêm sinh tố A, B1, C, alpha lipoid acid, khoáng chất như chromium, magnesium, lecithin fatty acids, ginkgo biloba, bilberry
chống quáng gà lúc chập tối (các phi công thời đệ nhị thế chiến hay dùng bilberry để nhìn rõ lúc bay phi vụ ban đêm).

– Ngoài ra có chất pycnogenol lấy từ vỏ cây thông bổ sung mạch máu nuôi con mắt là một chất antioxidant chống free radicals cần chất Zinc.

Tóm lại, phòng bệnh hơn trị bệnh, các cụ có thể ngăn ngừa các bệnh về mắt nếu dùng thêm Lutein và zeazanthin cùng các sinh tố kể trên.

Tất cả đều tìm thấy ở trong bột gạo lức mà giờ đây tôi mới được biết chưa có thức ăn thiên nhiên nào sánh bằng.

Theo Daily.mail

4 Cách Bảo Vệ Mắt Khi Xử Dụng Computer

1. Trong khi làm việc thỉnh thoảng rời mắt khỏi màn hình
Làm việc trên computer đòi hỏi bạn phải nhìn vào màn hình với khoảng cách không đổi trong quãng thời gian dài. Vì thế, bạn nên đổi hướng nhìn thay cho việc tập trung nhìn vào một điểm. Khi rời mắt khỏi màn hình trong ít giây, bạn hãy tập nhìn vào các điểm ở xa. Đây là cách hữu hiệu nhất để thư giản đôi mắt.

2. Đặt màn hình PC ở vị trí thích hợp
Màn hình được đặt cách mắt từ 45 đến 60 cm là hợp lý nhất. Các thầy thuốc nhãn khoa cho rằng, bạn nên chọn bàn và ghế máy tính phù hợp với kích thước cơ thể của mình.

Khi ngồi làm việc với máy tính, phải giữ cho tư thế hướng thẳng về phía trước. Nếu bạn đặt máy tính lệch với tầm nhìn, khiến cho cơ mắt phải hoạt động căng hơn, làm ảnh hưởng đến thị lực của mắt.

3. Ánh sáng phù hợp
– Ánh sáng nơi làm việc nên có độ chiếu sáng vừa phải sẽ có lợi cho sức khoẻ của mắt. Nên nhớ rằng, màn hình vi tính đã tự phát ra ánh sáng đủ để bạn nhìn. Nếu bạn làm việc ở văn phòng với ánh sáng điện quang thông thường, nên sử dụng thêm một chiếc đèn bàn nhỏ để sử dụng máy tính.

4. Thư giản giữa giờ làm việc
– Theo các chuyên gia, cứ 40 – 50 phút bạn nên nghỉ mắt rời khỏi màn hình trong khoảng 5 phút. Trong quãng thời gian ngắn đó, cơ thể cần được bổ sung ôxy bằng cách hít thở thật sâu và uống một ít nước.

Thông thường, các phòng đặt máy tính thường khô ráo, vì thế, chớp mắt thường xuyên cũng là một cách hữu hiệu để hồi phục mắt và tránh khô mắt.

Ngoài ra các hoạt động khác như đi lại, vận động cũng giúp giảm căng mỏi mắt.

Trên đây là những phương pháp đơn giản, hiệu quả để bảo vệ đôi mắt mà không phải ai khi làm việc với máy vi tính cũng biết
Bảo vệ đôi mắt là giữ gìn vẻ đẹp và phòng chống lão hoá cho bạn

8 Kẻ Thù Của Mắt – Chú Ý !
Trong cuộc sống hằng ngày, có những thói quen gây nhiều tổn thương cho
mắt. Vậy nên chúng ta phải chú ý…

1/ Rượu
Rượu là kẻ thù lớn và nguy hiểm nhất đối với đôi mắt. Tại sao có
người sau khi uống rượu lại đỏ mặt, nhiệt độ trong cơ thể tăng lên vùn vụt. Đó là do rượu có thể đẩy nhanh tuần hoàn máu, làm cho huyết quản mao mạch dãn nở, phình to. Vùng da ở xung quanh mắt rất mềm, huyết quản lại rất nhỏ, nếu uống quá nhiều rượu, huyết quản mao mạch rất dễ bị đứt, vỡ và hình thành các nốt đen nhỏ lấm chấm trên da.

– Biện pháp để đối phó với kẻ thù nguy hiểm này là “trốn” rượu càng xa càng tốt. Nếu trong trường hợp bất khả kháng không thể tránh được, nên uống nhiều nước để vô hiệu hoá những ảnh hưởng của rượu đối với da.

2/ Không khí ô nhiễm
Bạn thường mất cảnh giác với kẻ thù này. Đến khi bạn chú ý đến nó thì nó đã làm bạn tổn hại rồi. Lúc đi ra ngoài, kể cả bạn không trang điểm, thì bạn cũng nên đánh một ít kem dưỡng da và phấn nền, như thế sẽ có tác dụng ngăn ngừa bụi bẩn, vi khuẩn. Lúc ở trong nhà, bạn nên tạo dựng một môi trường trong lành, sạch sẽ.
Dùng máy làm sạch không khí để thanh lọc hết các chất ô nhiễm như bụi bẩn, khói thuốc, mùi hôi tanh, lông động vật, vi sinh vật và các chất nhiễm bẩn khác mà bạn không thể nhìn thấy được.

3/ Mỹ phẩm hết hạn ( expired date )
Khi bạn mở một tube mascara, bút kẻ mắt hay hộp phấn trang điểm mắt mới, vi khuẩn sẽ bắt đầu xâm nhập vào. Sau khi bạn mở ra xử dụng những mỹ phẩm này, rồi đóng lại vào hộp, nhiều lần như thế vi khuẩn tích tụ ngày càng nhiều, một khi nó vào mắt thì mắt bạn sẽ bị nhiễm khuẩn hoặc dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khác.

Vì vậy, khoảng 6 tháng nên thay mỹ phẩm 1 lần, chải mi thì 3 tháng nên thay một lần.

4/ Ăn kiêng không đúng cách
Theo một nghiên cứu chỉ rõ, trong các loại rau tươi và hoa quả chứa đựng nhiều chất như Vitamin E, C, chất Ca-ro-tin và kẽm (Zn) … có thể phòng chống các bệnh và nếp nhăn quanh mắt. Nếu ăn kiêng, hạn chế ăn các chất béo và chất bột là rất đúng nhưng đồng thời phải tăng thêm lượng rau xanh và hoa quả. Ăn nhiều loại viên nang bổ sung Vitamin là một ý kiến rất hay nhưng không được xem là món ăn chính.

5/ Thiếu ngủ
Nếu bạn thường xuyên phải làm việc tới 2 – 3 h sáng, 7 h phải vội dậy đi làm sẽ khiến sức khỏe cơ thể bị tổn hại. Muốn chiến thắng kẻ thù này, nhất định bạn cần nắm bắt từng cơ hội để ngủ.

Trên xe đi làm, trong lúc nghỉ trưa, lúc chờ cắt tóc … chỉ cần có chút thời gian, bạn nên nhắm mắt 2 – 5 phút relax , như thế mới có thể giữ được đôi mắt trong sáng mạnh khoẻ, thoát khỏi nỗi muộn phiền về quầng thâm mắt & nếp nhăn.

Bạn cần lưu ý, cố gắng hết sức để tránh nạp vào người chất cafein bởi vì nó có thể làm ảnh hưởng đến quy luật nghỉ ngơi của bạn.

6/ Bệnh khô mắt
Khô mắt có thể làm cho mắt trở nên không có thần sắc, khiến người khác luôn có cảm giác như bạn lúc nào cũng buồn rầu. Biện pháp tốt nhất để tiêu diệt kẻ thù này đó là không ngừng bổ sung nước cho mắt. Hầu hết các chuyên gia làm đẹp và các chuyên gia về mắt đều khuyên nên sử dụng thuốc nhỏ mắt vì nó có ích cho bạn cho dù bạn có đeo kính áp tròng hay bất cứ loại kính nào khác.

7/ Tia nắng mặt trời
Quá nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ tạo thành nếp nhăn quanh mắt, đục thuỷ tinh thể và các bệnh khác về mắt. Khi đi ra ngoài, bạn nên đeo kính râm hoặc kính chống tia tử ngoại, như thế có thể bảo vệ rất tốt cho mắt của bạn.

8/ Thuốc lá
Thuốc lá một khi được châm lửa thì tuyệt nhiên là một kẻ thù đáng sợ.

Các nghiên cứu khoa học gần đây càng chỉ rõ điều đó. Thuốc lá có thể sản sinh ra những nếp nhăn xung quanh mắt. Kể cả bạn không hút thuốc thì cũng không nên lơ là mất cảnh giác với khói thuốc từ người khác.

Hơi và khói thuốc của người khác hút cũng có thể phá hoại cơ thể và dung nhan của bạn.

Chú ý : Khám mắt hàng năm
Vậy với đôi mắt, một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể chúng ta thì sao?

Chú ý khám mắt

Vì người Việt Nam chúng ta còn chưa mấy quen với việc kiểm sức khỏe định kỳ, do đó cũng chẳng mấy người chịu đi khám mắt nếu vẫn chưa thấy mắt có biểu hiện đặc biệt khác thường. Thật ra mắt chúng ta cũng cần có lịch khám đều đặn, chỉ có điều không cần thiết phải quá thường xuyên. Đó là để phát giác sớm những căn bệnh về mắt, đồng thời giúp làm chậm quá trình lão hóa mắt cho mọi người.

Lần khám mắt đầu tiên nên bắt đầu trước 5 tuổi.
Từ đó đến năm 19 tuổi, chúng ta cần khám kiểm tra mắt ít nhất 1 lần để phát hiện sớm nguy cơ mắc bệnh suy giảm thị lực và nhiều căn bệnh cơ bản khác về mắt.

Từ 20 – 30 tuổi, nên khám mắt 1 lần.
Từ 30 – 40 tuổi nên khám mắt 2 lần.

Khám mắt định kỳ để phát hiện những triệu chứng sớm của các bệnh như glaucoma (bệnh tăng nhãn áp) và điểm đen võng mạc (sự lão hóa khiến mắt giảm thị lực). Nếu được phát hiện kịp thời, những chứng bệnh này hoàn toàn có thể điều trị được.

Sau 40 tuổi, chúng ta nên kiểm tra mắt định kỳ mỗi 2 đến 4 năm; trên 65 tuổi nên khám mắt 2 năm / lần.

Với những người bị bệnh tiểu đường hoặc trong gia đình có tiền sử bệnh án về mắt thì nên khám bác sĩ định kỳ theo sự chỉ định của bác sĩ.

Chống nắng cho mắt
Kính mát không chỉ để giúp bạn phòng tránh những vết chân chim nơi khóe mắt vốn rất dễ hình thành khi phải nheo mắt quá nhiều.

Kính mát còn là để bạn ngăn chặn những tác hại của tia cực tím cùng những bước sóng khác có thể khiến bạn bị đục nhân mắt hoặc bị điểm đen võng mạc.

Tốt nhất, bạn nên xử dụng kính mát thường xuyên, vào bất cứ khi nào ra đường, đặc biệt là ở những vùng có ánh sáng chói gắt (gần mặt nước hoặc tuyết) và không nên chỉ dùng trong mùa hè & mùa thu, đông & xuân

Theo Y tế phổ thông

Bảo Vệ Đôi Mắt Cẩn Thận
Hai mắt là ngọc qui’ chúng ta cần bảo vệ cẩn thận suốt đời .
Đôi mắt đã được gọi bằng nhiều tên rất biểu tượng như là đôi mắt huyền, mắt nhung, mắt biếc, mắt buồn tênh, mắt nai tơ, mắt tình nhân, mắt thù hận, mắt bạc tình, mắt dao cau, mắt sắc như dao, mắt bơ vơ, mắt xanh, mắt lá dăm, mắt nai….

Ciceron nói: “Khuôn mặt là chân dung của tâm hồn, diễn tả bằng cặp mắt”

Cùng nhận xét này, Mạnh Tử góp ý: “Bụng ngay thẳng thì con ngươi trông sáng tỏ. Bụng đầy tà khúc thì con ngươi mờ đục, tối tăm”.
Rừng thơ có cả nhiều ngàn câu nói đến đôi mắt.

Xin ghi lại: “Mắt Biếc”
của Bích Khê diễn tả nhiều khả năng đáng yêu của mắt:
“Ôi! cặp mắt của người trong tơ ngọc
Sáng như gươm và chấp chóa kim cương
Mỗi cái ngó là một vì sao mọc!
Mỗi liếc yêu là phảng phất mùi hương.
Hai mắt ấy chói hòa quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng.
Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp
Say nhạc hường nổi bồng giữa đào nguyên”

và của Trịnh Công Sơn với “ Những con mắt trần gian” :
“Những con mắt tình nhân,
Nuôi ta biết nồng nàn
Những con mắt thù hận,
Cho ta đời lạnh câm
Những con mắt cỏ non,
Xanh cây trái địa đàng
Những con mắt bạc tình,
Cháy tan ngày thần tiên…”
Một cách thực tế, Addison nhận xét:
“Trong tất cả các giác quan, thị
giác toàn hảo và thích thú nhất”.

Người mình vẫn so sánh: “Hai mắt là ngọc, hai tay là vàng”.
mắt là cơ quan để thu hình ảnh và nhìn sự vật, như một chiếc máy ảnh, nhưng với một cấu trúc tinh vi và những khả năng hoàn hảo gấp bội.

a – Nhãn cầu là bộ phận phần chính của mắt nằm trong ổ mắt và được mi mắt bảo vệ ở phía trước.

– Ổ mắt do các xương gò má, xương trán, xương sống mũi họp thành.

Đây là một khối hình cầu mà kích thước do di truyền quyết định. Khi mới sinh ra, trẻ nhìn xa rõ hơn vì nhãn cầu nhỏ.

Tới giai đoạn tăng trưởng, trẻ nào có nhãn cầu to do di truyền sẽ nhìn gần rõ ràng hơn.

Tuổi tăng trưởng lại trùng vào thời gian bắt đầu đi học, nên các em này thường hay bị cận thị.

Vì vậy, cận thị thị được “cho là” do đọc sách nhiều, ngồi gần màn hình tivi, đọc sách thiếu ánh sáng…

Phía ngoài của mắt là 6 bắp thịt nhỏ, dài để di động nhãn cầu nhìn về nhiều phía.

b – Mi mắt là một lớp da với nhiều cơ và mô liên kết lót bằng kết mạc.

– Mi mắt nhắm lại khi giác mạc bị kích thích, đe dọa hiểm nguy. Viền quanh mi mắt là hai hàng lông mi để ngăn vật lạ bay vào mắt và chớp chớp khi bẽn lẽn tình yêu.

Một hàng lông mày nằm phía trên mắt ngăn mồ hôi, chất lỏng chảy vào mắt.

Nằm dưới mi mắt trên là những tuyến, tiết ra nước mằn mặn để mắt khỏi khô.

Mắt thông với miệng bằng một cái ống nhỏ nằm ở góc trong mi mắt. Cạnh mi có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn, mồ hôi…

Mi mắt chớp mở mỗi vài giây, có tác dụng như cặp gạt nước kính xe hơi, để loại bỏ bụi bặm bám trên giác mạc. Đêm ngủ, mi mắt khép kín để giác mạc khỏi bị khô.

Lâu lâu nhiều người hay nháy mi mắt và e ngại đó là triệu chứng của bệnh tật. Thực ra, đây chỉ là sự co giựt của cơ trên mi mắt và thường thường xẩy ra khi cơ thể mệt mỏi, căng thẳng.

Nháy mắt kéo dài trong vài giây, không nguy hại, chỉ cần thoa nhẹ lên mi một chút là hết.

Đôi khi nháy mắt liên tục cũng thấy trong bệnh đa xơ cứng (multiple sclerosis), co giựt cơ mặt (facial tic).

c – Phần trước của nhãn cầu là giác mạc (cornea, cornée), không vẩn đục, không mạch máu và rất nhạy cảm với với sự đau đớn. Phủ lên giác mạc là kết mạc (conjunctiva) trong suốt, có rất ít mạch máu.

d – Thủy tinh thể (lens, cristallin) là bộ phận quan trọng tiếp nhận
và hội tụ ánh sáng hình ảnh lên võng mạc (retina, rétine).

Đây là một cấu trúc hai mặt lồi, trong suốt, gồm có nước và chất đạm, nằm sau đồng tử và có thể thay đổi độ cong để mắt có thể thấy rõ sự vật. Tinh thể dẹp xuống khi tập trung vào vật ở xa và vật nhìn nhỏ.

Tinh thể dầy lên để tập trung vào vật ở gần, vật nhìn thấy to. Đó là sự điều tiết của mắt. Khả năng này hoàn toàn tự động, con người không điều khiển được.

e – Ánh sáng lọt qua đồng tử (pupil, pupille), một lỗ nhỏ nằm giữa mống mắt.

g – Mống mắt (iris) – là cái màng che trước thủy tinh thể. Một cơ
vòng bao quanh bờ mống mắt điều khiển đồng tử thu nhỏ khi ánh sáng mạnh hoặc mở rộng khi ánh sáng yếu. Đồng tử cũng mở rộng khi ta có cảm xúc kinh ngạc, sợ hãi hoặc hớn hở, vui mừng. Tùy theo mống mắt có nhiều hay ít chất mầu mà có người có mắt đen, mắt xanh, mắt nâu…

h – Võng mạc (retina, rétine) là lớp tế bào nhạy cảm với ánh sáng, lót phía trong mắt.

Đây là cấu trúc căn bản của cặp mắt, có công dụng như tấm phim của máy ảnh để thu nhận và ghi lại cả ngàn hình ảnh, tĩnh cũng như động, suốt ngày này qua tháng khác mà không cần thay phim như trong máy ảnh…

Trên võng mạc có những tế bào hình nón, hình que chuyển ánh sáng ra những tín hiệu điện năng, được dây thần kinh thị giác chuyển lên não bộ. Tế bào não phân tích, tổng hợp các tín hiệu và tạo ra hình ảnh của sự vật.

i – Mắt còn chứa hai dung dịch lỏng rất quan trọng. Thể mi (ciliary body) với nhiều cơ bắp để thay đổi độ cong của tinh thể đồng thời cũng tiết ra một chất lỏng như nước gọi là thủy dịch nằm giữa tinh thể và giác mạc.

Thủy dịch có đủ các thành phần cấu tạo của máu, ngoại trừ tế bào máu. dung dịch thứ hai, dịch pha lê, trong suốt, nẳm giữa võng mạc và tinh thể.

Vài rối loạn của thị giác
Nhìn sự vật có vẻ như rất giản dị, nhưng thực ra đây là một diễn tiến khá phức tạp với nhiều giai đoạn liên tục khác nhau.

Ánh sáng vào mắt qua đồng tử. Đồng tử thay đổi kích thước tùy theo cường độ của ánh sáng.

Đồng tử co hẹp khi có nhiều ánh sáng và mở rộng khi ánh sáng quá ít.

Ánh sáng vào mắt sẽ được tinh thể hội tụ lên võng mạc.
Các tế bào mầu của võng mạc tiếp nhận hình ảnh ánh sáng và chuyển lên phần sau của não bộ qua dây thần kinh thị giác. Thị giác thành hình ở đây.

Mọi rối loạn xẩy ra trong bất cứ giai đoạn nào của diễn tiến này đều đưa tới trở ngại cho sự nhìn.

– Thị lực (visual acuity) là tính sắc bén khi nhìn. Sự vật rõ hay mờ tùy thuộc vào cường độ ánh sáng chiếu vào vật đó, vào động cơ thúc đẩy sự nhìn, nhưng quan trọng hơn cả là sự toàn vẹn các thành phần của mắt như giác mạc, thủy tinh thể, võng mạc…

– Khó khăn thường thấy của mắt là do những rối loạn về khúc xạ ánh sáng qua tinh thể và giác mạc cũng như khoảng cách từ thủy tinh thể tới võng mạc, trung bình là 24 mm.

Trong tình trạng nhìn bình thường, ánh sáng đi qua giác mạc, thủy tinh thể rồi được hội tụ trên võng mạc. Nếu ánh sáng tập trung ở phía trước hoặc phía sau võng mạc, thì thị giác sẽ bị rối loạn.

a – Viễn thị – khi nhãn cầu hơi dẹp, võng mạc gần với thủy tinh thể, ánh sáng hội tụ phía sau võng mạc. Muốn nhìn rõ, phải đưa vật xa ra một chút hoặc mang kính lồi (convexe) để đưa hình trở lại võng mạc.

b – Cận thị – khi nhãn cầu dài ra, khoảng cách giữa võng mạc và thủy tinh thể lớn hơn, ánh sáng sẽ tập trung trước võng mạc. Nhìn gần thì rõ nhưng nhìn xa hình ảnh sẽ lu mờ. Người cận thị mang kính điều chỉnh lõm (concave), khúc xạ ánh sáng về võng mạc để nhìn vật ở xa.

c – Loạn thị (astigmatism) – mặt cong của giác mạc không đều, khúc xạ ánh sáng méo mó, không tập trung gọn trên võng mạc. Hình ảnh sự vật bị lu mờ. Thường thường loạn thị được điều chỉnh bằng kính hội tụ. Ngoài ra phẫu thuật hoặc tia laser cũng là những phương tiện rất hữu hiệu để điều chỉnh các rối loạn kể trên.

d – Tăng nhãn áp (glaucoma) – là trường hợp mất thị giác vì áp suất trong mắt lên cao, đưa tới tổn thương cho võng mạc và dây thần kinh thị giác. Giác mạc và thủy tinh thể được nuôi dưỡng bằng thủy tinh dịch. – Thủy tinh dịch do các mô bào quanh thủy tinh thể liên tục sản xuất để giữ cho phần trong của mắt không bị khô. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, thủy tinh dịch được huyết quản hấp thụ. Nếu thủy tinh dịch bị ứ đọng trong mắt, áp suất mắt tăng cao. Có nhiều nguyên nhân gây ra tăng nhãn áp và bệnh có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào, nhưng nhiều hơn ở lớp người cao tuổi. Bệnh diễn tiến âm thầm, đôi khi không có dấu hiệu báo trước.
Một số người than phiền mất một phần thị giác, giảm tầm nhìn. Vì vậy, nên đi khám bác sĩ theo định kỳ và đo áp suất trong mắt.

đ – Đục thủy tinh thể hoặc cườm mắt (cataract) – là nguyên nhân thông thường gây ra khiếm khuyết thị giác. Trong bệnh này, chất đạm cấu tạo thủy tinh thể trở nên đục như sữa, khiến độ trong của cơ quan này giảm, cản trở sự thu nhận ánh sáng. Thay đổi này xảy ra cho mọi người, nhất là khi tới tuổi cao.

Đục thủy tinh thể cũng thấy trong bệnh tiểu đường, bệnh galactose – huyết, khi calcium trong máu giảm, khi hút nhiều thuốc lá uống nhiều rượu, dưới tác hại của tia tử ngoại, khi dùng thuốc corticosteroid lâu ngày với liều lượng cao, khi thiếu dinh dưỡng, thương tích nhãn cầu, bệnh của mống mắt… Đôi khi, trẻ em sinh ra đã bị cườm mắt.

Đục thủy tinh thể được điều trị hữu hiệu bằng kính điều chỉnh hoặc phẫu thuật, thay thủy tinh thể.

e – Võng mạc – cũng dễ dàng bị tổn thương, thoái hóa, tách rời và đưa tới trở ngại cho thị giác. Cao huyết áp, tiểu đường, cao nhãn áp .. là những nguyên nhân thường thấy.

Chăm sóc mắt – Nhiều người hơi lơ là trong việc giữ gìn “đôi mắt ngọc” của mình. Đây là một thiếu sót lớn, vì một tổn thương dù nhỏ của mắt cũng có thể dần dần đưa tới khiếm khuyết thị giác.

Sau đây là một số điều nên lưu ý:

1. Đừng bao giờ dụi mắt với những ngón tay, dù là ngón tay ngọc ngà người đẹp, huống chi lại giụi mắt với bàn tay dính đất, một cái khăn nhiễm trùng, một miếng giấy dơ bẩn…

2. Khi chẳng may có một chất kích thích nào đó, như nước xà bông, nước mắm, dầu xe hơi, mỡ … bắn vào mắt, nên lập tức tạt nước lạnh vào mắt.
Tổn thương cho mắt sẽ giảm thiểu rất nhiều nếu ta làm hành động rất giản dị, sẵn có nhưng quan trọng này.

3. Mang kính bảo vệ mắt khi cắt cỏ, mài cắt kim loại, đi xe gắn máy… để tránh vật nhỏ bay vào mắt. Công nhân làm công việc có rủi ro cho mắt, cần mang lính bảo vệ mắt do chủ nhân cung cấp.

4. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác, vì mỗi người có mỗi bệnh khác nhau. Ngoài ra, có nhiều loại thuốc nhỏ mắt cấm dùng chung trong vài bệnh nhiễm trùng của mắt.

Nhỏ thuốc vào mắt như sau: đứng trước một tấm gương, dùng đầu ngón tay kéo nhẹ mi mắt dưới xuống, bàn tay kia bóp thuốc vào góc con mắt, buông ngón tay giữ mi, chớp mắt vài lần, thuốc sẽ lan đều khắp mắt.

5. Nhiều người, đặc biệt là quý vị cao niên, hay bị khô mắt, gây ra cảm giác rất khó chịu, lâu ngày giác mạc có thể bị trầy. Nguyên do thông thường là tuyến nước mắt tiết ra ít nước mắt hoặc ống dẫn nước mắt bị tắc nghẹt. Nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân rồi trị liệu.
Trong khi chờ đợi, có thể nhỏ các dung dịch nước mắt nhân tạo để giảm thiểu khó chịu này

6. Nên cẩn thận với các tia cực tím từ ánh nắng mặt trời.
Tiếp xúc trực tiếp và lâu ngày, các tia này có thể gây tổn thương cho giác mặc, thủy tinh thể và cũng là nguy cơ đưa tới cao áp suất trong mắt. Thực ra, không cần phải mang kính râm mỗi lần ra ngoài nắng. Nhưng nếu làm việc hoặc đi dưới ánh nắng trong thời gian khá lâu thì nên mang kính râm để chặn các tia tử ngoại và khỏi chói mắt.

7. Nên đi bác sĩ khám mắt theo định kỳ.
– Nếu không có bệnh mắt, nên đi khám mỗi 5 năm, cho tới khi 50 tuổi.
Sau tuổi này, nên khám thường xuyên hơn để phát hiện dấu hiệu của cao áp nhãn và các bệnh khác.
– Nếu có rối loạn về khúc xạ ánh sáng, nên đi khám mỗi 2 năm hoặc thường xuyên hơn, tùy theo chỉ định của bác sĩ.
Bác sĩ chỉnh mắt (optometrist) có thể khám mắt, đo thị lực, chỉ định độ nặng nhẹ của kính và, tùy theo luật lệ từng nơi, có thể điều trị mấy bệnh nhẹ của mắt.
Bác sĩ chuyên ngành nhãn khoa (ophtalmologist) khám, chữa tất cả các bệnh của mắt, cho toa kính mắt và giải phẫu mắt..

8. Ánh sáng khi làm việc, đọc chữ cần vừa phải, thích hợp không sáng quá hoặc tối quá để khỏi gây trở ngại cho sự nhìn. Các nhà chuyên môn về mắt đều đồng ý là cường độ ánh sáng hoặc ngồi gần màn hình tivi không gây tổn thương cho mắt.

9. Nên cẩn thận với mỹ phẩm làm đẹp mắt, vì nhiều người có thể dị ứng với các sản phẩm này. Mua một ít dùng thử, nếu an toàn thì tiếp tục.
Tránh để mỹ phẩm rớt vào mắt gây ra kích thích. Bôi mỹ phẩm tô đậm lông mi (mascara) vào 2/3 phần ngoài cùa lông, tránh mỹ phẩm rơi vào mắt. Kẻ bút chì xa mi mắt một chút, tránh đầu nhọn đụng vào giác mạc.

10. Cẩn thận khi xịt keo tóc, đừng để hóa chất bắn vào mắt.

11. Nhiều bác sĩ nhãn khoa đề nghị gắn lông mày giả loại lấy ra mỗi ngày được, để các tuyến nhờn mi mắt tiếp tục hoạt động bình thường.
Khi uốn cong lông mi, tránh kéo mi mắt quá căng.

12. Nhiều người than phiền mỏi mắt sau mấy giờ đọc sách, coi máy vi tính hoặc làm công việc tỉ mỉ cần sự tập trung của mắt. Họ e ngại là mắt suy nhược, bị bệnh mắt hoặc cần mang kính. Thực ra, đây chỉ vì mắt phải làm việc quá khả năng chịu đựng, nên các bắp thịt mệt mỏi. Vì vậy, lâu lâu nên ngưng công việc, nhắm mắt vài phút, hoặc ngó lên trần nhà để nhãn cầu, cơ mắt thư giãn. Ngoài ra, cũng nên lưu ý là nếu sức khỏe tổng quát không tốt, thiếu dinh dưỡng, mất ngủ, căng thẳng tâm thần … cũng làm mắt mau mệt mỏi. Kính mắt chỉ để điều chỉnh khiếm khuyết về khúc xạ ánh sáng của nhãn cầu chứ không làm mắt mạnh hơn hay yếu đi.

13. Mắt đỏ cũng là mối ưu tư của nhiều người.
Bình thường, trên giác mạc có một số mạch máu nhỏ xíu phủ lên. Khi nhiễm vi khuẩn, dưới tác hại của khói thuốc, hóa chất trong môi trường, uống nhiều rượu, làm việc bằng mắt quá lâu, khi “nộ khí sung thiên”, tức giận … đều làm cho máu tụ lại nhiều, mắt sẽ đỏ lên. Khi đỏ mắt do nhiễm bệnh hoặc gây ra do hóa chất cần đi bác sĩ để điều trị. Còn các trường hợp khác, chỉ cần dùng nước lạnh tạt vô mắt hoặc đắp khăn nước lạnh dăm phút lên mắt là có thể làm giảm đỏ mắt.

14. Duy trì chế độ ăn uống hợp lý, đa dạng, cân bằng có đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt các vitamin A, C, E., các khoáng chất kẽm, selenium… Và đặc biệt là giữ tâm thân an lạc, giảm thiểu lo âu, buồn bực, ham muốn, giận hờn, ghen tức, đố kỵ…

“Trời sinh con mắt là gương.
Người ghét ít ngó, người thương ngó hoài.
Vì “ Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, nhìn vào thấy hết: gian – ngay, tốt – xấu…

Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức

Gánh Của Bạn Nặng Như Thế Nào? – Thanh Tùng

911 views

Galati 6: 5  “Vì mỗi người phải mang lấy gánh nặng của mình”

Câu Kinh văn này cho biết rằng mỗi người phải mang gánh nặng của mình. Điều này dường như mâu thuẫn với câu 2 của chương 5, chúng ta được khuyên “Hãy mang gánh nặng cho nhau.”  Nhưng thật ra không phải thế !   Chúng ta biết rằng sống trên đời này, chúng ta sẽ có, và gặp những thử thách và thử nghiệm  đến trong mỗi đời sống của minh.

Trong đời thường, có một số người thì có cuộc sống dễ thở nhẹ nhàng hơn những người khác; một số người thì bị, chịu thử nghiệm quá mức, nhưng chắc chắn là mỗi chúng ta đều có mang gánh nặng ở một mức độ nào đó. Là con dân Chúa, chúng ta được mời gọi để yêu thương nhau và để tiếp xúc với những người đang gặp thử thách. Chúng ta phải yêu thương và hỗ trợ họ trong bất kỳ tình trạng nào mà mình có thể giúp đỡ họ. Tuy nhiên, như chúng ta biết, có những điều nào đó trong cuộc sống của chúng ta mà mình phải chịu đựng, mang vác. Vì đó là gánh nặng riêng của chúng ta, và không ai có thể giúp chúng ta trừ ra Chúa.

Làm thế nào chúng ta đối phó với gánh nặng ấy ? Bất cứ chúng là gì, chắc chắn chúng ta phải đối phó với gánh nặng ấy. Hai người khác nhau có thể có một gánh nặng như giống nhau. Đối với người này thì gánh nặng ấy kéo trì họ xuống, nhưng đối với người kia thì dường như nó khuyến khích họ đi sâu hơn vào trái tim của Chúa Cứu-Thế và họ trở nên mạnh mẽ hơn, thế rồi gánh nặng trở nên nhẹ hơn. Trong chương 5 của Ga-la-ti nhắc nhở chúng ta về những trái của Thánh Linh là gì. Tôi bảo đảm với bạn rằng cách chúng ta phản ứng với những gánh nặng của mình như thế nào sẽ được đo lường bằng trái của Thánh Linh trong đời sống chúng ta.

Bây giờ những trái của Thánh Linh là “thương yêu, vui mừng, bình an, kiên nhẫn, nhân từ, lương thiện, trung tín, nhu mì, tiết chế.” Bạn có đang yêu thương khi bạn mang gánh nặng của mình không? Bạn có niềm vui không? Mối thuận hòa với anh em mình ra sao ? Bạn đang kiên nhẫn với những người khác không? Người ta sẽ nhận thấy bạn nhân từ và tốt lành chăng? Bạn có tin cậy Chúa? Khi bạn bị những người khác chọc tức, bạn có đáp ứng trong sự nhân từ tiết chế của mình không? Bạn thấy đấy, gánh nặng của chúng ta là vị thầy của mình. Bạn có thể dạy dỗ ai không? Gánh nặng của chúng ta tạo hình cho chúng ta.

Khi một điêu khắc gia bắt đầu công việc, ông khởi đầu với một khối đá. Mỗi cú đánh từ cái đục không chỉ tạo hình dạng cho đá, nó cũng làm cho khối đá nhẹ bớt. Nếu đá có thể chống lại nhà điêu khắc và từ chối được định hình, nó sẽ vẫn chỉ là một khối nặng hình thù bằng đá. Bạn có chống lại ngón đòn của chiếc búa chăng? Bạn đã phản ứng một cách chính xác với gánh nặng mà bạn đã được kêu gọi để mang vác chăng? Có vẻ như bạn không thể mang nổi và quá nặng nề? Tôi có thể khích lệ bạn ngày hôm nay, hãy đi sâu hơn vào trái tim của Chúa Cứu-Thế ngay hôm nay. Bạn biết gánh nặng này là cái gì đó… Nó phải được giải quyết và không có ai trên trái đất này có thể giúp bạn. Chúa Giê-xu nói: “Hỡi hết thảy những kẻ đang lao khổ và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi. Vì ta có lòng nhu mì, khiêm ti, nên hãy mang lấy ách của ta, học theo ta, thì tâm hồn các ngươi sẽ được nghỉ ngơi. Vì ách ta dễ chịu, và gánh ta nhẹ nhàng.”

Bạn nhận ra rằng không có gánh nặng nào được loại trừ trong vòng các anh chị em tín hữu, nhưng Chúa làm cho gánh nặng nhẹ đi. Gánh nặng được nhẹ hơn ở trong Ngài. Và khi bạn đến với Chúa Giê-xu gần hơn, thì chính cái gánh nặng có thể thể hủy hoại mình lại bắt đầu tạo hình trong bạn, dạy dỗ bạn và sản xuất những quả trái trong đời sống bạn. Tôi là người lớn lên trong một thành phố, tôi không thể cho bạn biết cây nầy khác cây kia như thế nào, nhưng tôi biết một quả táo như thế nào. Quả xác định cây cho những người không biết. Bạn đang mang loại hoa quả nào ngày hôm nay đang khi bạn chịu gánh nặng của mình? Gánh của bạn nặng như thế nào? Trọng lượng được xác định bởi sự gần gũi của chúng ta với Thiên Chúa.

Tôi có thể khích lệ bạn ngày hôm nay, hãy đến gần Chúa Cứu-Thế và bạn sẽ sản xuất nhiều trái cây và gánh nặng của bạn sẽ được nhẹ nhàng.

Thiên Chúa Thực Hữu – Sự Sống Là Gì? – Tác giả: Nguyễn Sinh

818 views

Sự Sống Là Gì?

Ðây là một lãnh vực mong manh nhất đối với kiến thức của các nhà khoa học. Môn khoa học thực nghiệm chủ trương về sự tính toán, cân đo và làm các thí nghiệm trong phòng Lab; tuy nhiên, không một ai có thể dùng cân để cân sự sống nặng bao nhiêu? Không ai có thể dùng thước để đo các chiều kích của sự sống được. Cũng chẳng có ai có thể biết được sức mạnh của sự sống làm cho cây đâm chồi nẩy lộc, nở hoa, và mọc rể.

Chúng ta có thể hình dung về sự sống như một nhạc sĩ vô hình dạy chim hát líu lo, như là một họa sĩ đều đặn tô mầu cho hoa và lá. Sự sống như là một hóa học gia liên tục mang hương vị đến cho hoa quả, biến đổi nước và Acid Carbonic thành đưòng bột gỗ để rồi từ đó tỏa ra Oxy cho mỗi động vật có được sự sống. Sự sống này phát xuất từ tế bào, từ trong nguyên sinh chất Gene, DNA. Vậy nguyên thủy của sự sống từ đâu? Càng suy nghĩ tìm tòi, các khoa học gia biết được rằng sự sống có được đây quả thật là lạ lùng. Câu hỏi nêu lên rằng ai đã đặt để sự sống vào cõi tạo vật, cây, hoa, lá, sinh vật, kể cả con ngưòi? Có phải là một tình cờ hay ngẩu nhiên chăng?

Có một số ngưòi chủ trương rằng sự sống trên đất là do tình cờ. Nhưng các khoa học gia chân chánh thì không tin điều này là hợp lý. Do các công trình khảo cứu, tìm tòi, thử nghiệm, đối chiếu, các nhà khoa học đành phải công nhận rằng sự sống trên đất đòi hỏi những điều kiện thật chính xác, và dĩ nhiên, các điều kiện ắt có và đủ này không thể nào do sự tình cờ mà có được. Trái lại, nó phải được điều khiển bởi một Ðấng-Huyền-Nhiệm (GOD) trong một trật tự nhất định. Tối thiểu cũng phải có 10 điều kiện sau đây:

1. Phải có không khí

2. Phải có nước

3. Phải có ánh sáng

4. Ðịa cầu phải quay. Trái đất tự xoay trên một trục của nó khoảng 1,000 dặm/giờ. Nếu quả đất quay chậm hơn, kết quả sẽ là ngày và đêm kéo dài hơn, sức nóng của mặt trời sẽ thiêu cháy cây cỏ lúc ngày, làm tàn héo các mầm non vào lúc đêm.

5. Phải có sức nóng vừa phải. Mặt trời nóng liên tục 12,000 F. Quả đất được đặt ở một tầm vừa phải để có sự sống. Vì lẽ nếu mặt trời nóng hơn hoặc nguội hơn thì đều gây nên tai hại cho sự sống trên địa cầu này.

6. Trục trái đất phải nghiêng, nhờ sự nghiêng 23 độ mà quả đất có được bốn mùa xoay vần trong năm. Nếu hành tinh này không nghiêng thì rất nguy hại cho sự sống. Tại sao? Vì hơi nưóc bốc lên từ các đại dương sẽ hội tụ tại Nam và Bắc cực. Kết quả xảy ra là sẽ tạo nên các lớp băng giá dày, dần dần chúng sẽ hủy diệt sự sống.

7. Mặt trăng không thể gần địa cầu này hơn nữa. Nếu nguyệt cầu gần quả đất hơn sẽ tạo nên thủy triều mạnh mẽ, nước của các đại dương sẽ tiếp tục dâng tràn và các lục địa sẽ bị chìm ngập trong bể nước mà thôi.

8. Vỏ của địa cầu không được dày hơn. Nếu mọi nơi trên quả đất dày hơn thêm vài thưóc thì không có đủ Oxy để duy trì sự sống.

9. Các đại dương sẽ không được sâu hơn. Nếu các biển cả khắp nơi sâu thêm vài thước nữa thì khí Carbonic và Oxy sẽ bị hụt mất, và hậu quả là các thảo mộc sẽ chết hết.

10. Bầu khí quyển không được dày hơn. Vì nếu dày hơn thì số sao băng sẽ gia tăng. Sao băng là gì? Ðấy là những tảng đá vĩ đại trong vũ trụ va chạm vào lớp khí quyển và bị bốc cháy. Khi các sao băng này gia tăng và bị bốc cháy như thế, hậu quả thế nào? Các khối lửa khổng lồ này sẽ rơi trên mặt quả đất tạo nên những vụ hoả hoạn thiêu hủy sự sống.

Trên đây chỉ là 10 điều kiện trong vô số điều kiện phải xảy ra cùng một lúc để có sự sống trên địa cầu này.

Sự sống trên đất này không do tình cờ hay ngẩu nhiên mà có. Vậy chỉ còn phải tin rằng có một bàn tay nhiệm mầu đã sắp đặt có hệ thống, một cấu trúc cực kỳ lạ lùng đã được điều khiển từ bàn tay của một kiến trúc sư đại tài thiết dựng. Sự tình cờ, ngẩu nhiên không thể nào đưa đến kết quả là vũ trụ có trật tự để dẫn đưa đến sự sống. Tôi tin rằng các quí vị sẽ đồng ý 100% với các khoa học gia.

Nay tôi xin được hỏi quí vị có đồng ý để cho Ðấng-Tối-Cao-Toàn-Năng (GOD) ấy sắp đặt, và cai quản đời sống của quí vị hay không?

Trong thời tối thượng cổ của quốc gia Do-thái có một hoàng đế tên Salomon. Ông đã được mô tả là vị vua rất thông minh, uyên bác, ông rất giầu có và nắm quyền lực trong tay; tuy nhiên, hoàng đế Salomon cũng đã phải thốt lên: “Các tầng trời rao truyền sự vinh quang của Thiên Chúa, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.” (Thánh Vịnh 19:1) Câu trên đây rất đúng trên lãnh vực khoa học và cũng rất đúng về bình diện thuộc linh. Thánh Kinh chép “Ðức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.” (Hê-bơ-rơ 11:1)

Ðối với vấn đề Thiên Chúa hiện hữu, chúng ta có thể kể ra ba hạng người:

1. Họ đòi hỏi mình phải thấy được dung nhan của Thiên Chúa, có thấy mới tin.

2. Có một số ngưòi có thấy Thiên Chúa Ngôi Hai, Giê-xu Ki-tô, song họ vẫn không tin. Lúc còn tại thế, Chúa Giê-xu đã thực hiện vô số phép lạ, nhưng lòng ngưòi cứng cõi vẫn không tin Ngài. Khi Ðấng Giê-xu còn tại thế, ngài là nguồn của sự sống, như là ánh sáng tỏa sáng rực rở giữa trời đêm, nhưng tâm trí con ngưòi vẫn phủ nhận Ngài và từ khưóc Ngài. Vì lẽ có một bức màn che tâm trí và đôi mắt tâm linh của họ. “Trưóc khi sáng tạo vũ trụ đã có Logos, Logos ở cùng Thiên Chúa và Logos là Thiên Chúa. ngay từ ban đầu Logos đã ở cùng Thiên Chúa. Tất cả đều đưọc Logos sáng tạo. Không gì hiện hữu mà không do Logos. Trong Ngài có nguồn sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng toả ra trong bóng tối và bóng tối không khống chế đưọc ánh sáng. (Giăng 1: 1-5) [b][/i] “Ánh sáng thật này (Logos) đã đến trần gian soi sáng mọi ngưòi.” (Giăng 1: 9) ] Logos là Ðấng Giê-xu Ki-tô cũng là GOD, Ðấng sáng tạo vũ trụ và con người.
3. Có nhiều người đã thấy được một phần và có đức tin để tin thiên Chúa cách trọn vẹn.

Quí vị đang ở trong thành phần nào?

Các con dân Chúa (Christians) gồm có những ai đã tin nhận Thiên Chúa, họ thuộc thành phần thứ ba trên đây. Bởi đức tin, các con dân của Chúa thấy Chúa qua công trình sáng tạo vũ trụ và con ngưòi, một tiểu vủ trụ. Hiện nay, mắt chúng tôi chưa nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, nhưng tất cả chúng tôi đều tin chắc chắn về một Thiên Chúa thực hữu.

Ðại lễ kỷ niệm Chúa Giê-xu nhập thế là một biến cố vô tiền khoáng hậu trong cõi nhân gian . Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể để trở nên ngưòi, vì thế, Ngài hiểu và cảm biết được mọi nỗi khỗ đau, bất lực, tuyệt vọng của con ngưòi. Sau hết, Ðấng Giê-xu Ki-tô hi sinh chịu làm một sinh tế chuộc tội cho nhân loại. Không có sự đổ huyết của Giê-xu thì không có sự giải thoát con ngưòi thoát khỏi cùm kẹp, xiềng xích của tội lỗi và bởi Satan thống trị. Sự chết chuộc tội của Ðấng Giê-xu chỉ một lần duy nhất, vì “mọi sự đều được trọn.” Công tác cứu chuộc tội lỗi con ngưòi trưóc Thiên Chúa đã hoàn tất. Nếu không có sự chết khổ hình tại thập tự giá thì sẽ không có sự sống vinh quang đắc thắng tử thần.

Qua sự nhập thế của Chúa Ngôi Hai, qua sự chết và sự phục sinh vinh quang của Ðấng Giê-xu Ki-tô đủ đảm bảo cho chúng ta biết Ngài đang hiện hửu, nắm mọi quyền bính trong tay. Ðấng đang sống và sống đời đời.

Rất mong các bạn vô thần đừng hình dung Thiên Chúa là Ðấng chỉ có trừng phạt và quăng các bạn vào hoả ngục. Trái lại, Ngài thương yêu các bạn. Mong các bạn hãy hồi tâm và quay trở lại đầu phục Thiên Chúa, Ðấng sáng tạo vũ trụ và chính đời sống các bạn.    AMEN

Nguyễn Sinh

Disputation of Doctor Martin Luther on the Power and Efficacy of Indulgences by Dr. Martin Luther

838 views

Disputation of Doctor Martin Luther
on the Power and Efficacy of Indulgences
by Dr. Martin Luther, OCTOBER 31, 1517

Out of love for the truth and the desire to bring it to light, the following propositions will be discussed at Wittenberg, under the presidency of the Reverend Father Martin Luther, Master of Arts and of Sacred Theology, and Lecturer in Ordinary on the same at that place. Wherefore he requests that those who are unable to be present and debate orally with us, may do so by letter.

In the Name our Lord Jesus Christ. Amen.

1. Our Lord and Master Jesus Christ, when He said Poenitentiam agite (Repent ye), willed that the whole life of believers should be repentance.

2. This word cannot be understood to mean sacramental penance, i.e., confession and satisfaction, which is administered by the priests.

3. Yet it means not inward repentance only; nay, there is no inward repentance which does not outwardly work divers mortifications of the flesh.

4. The penalty [of sin], therefore, continues so long as hatred of self continues; for this is the true inward repentance, and continues until our entrance into the kingdom of heaven.

5. The pope does not intend to remit, and cannot remit any penalties other than those which he has imposed either by his own authority or by that of the Canons.

6. The pope cannot remit any guilt, except by declaring that it has been remitted by God and by assenting to God’s remission; though, to be sure, he may grant remission in cases reserved to his judgment. If his right to grant remission in such cases were despised, the guilt would remain entirely unforgiven.

7. God remits guilt to no one whom He does not, at the same time, humble in all things and bring into subjection to His vicar, the priest.

8. The penitential canons are imposed only on the living, and, according to them, nothing should be imposed on the dying.

9. Therefore the Holy Spirit in the pope is kind to us, because in his decrees he always makes exception of the article of death and of necessity.

10. Ignorant and wicked are the doings of those priests who, in the case of the dying, reserve canonical penances for purgatory.

11. This changing of the canonical penalty to the penalty of purgatory is quite evidently one of the tares that were sown while the bishops slept.

12. In former times the canonical penalties were imposed not after, but before absolution, as tests of true contrition.

13. The dying are freed by death from all penalties; they are already dead to canonical rules, and have a right to be released from them.

14. The imperfect health [of soul], that is to say, the imperfect love, of the dying brings with it, of necessity, great fear; and the smaller the love, the greater is the fear.

15. This fear and horror is sufficient of itself alone (to say nothing of other things) to constitute the penalty of purgatory, since it is very near to the horror of despair.

16. Hell, purgatory, and heaven seem to differ as do despair, almost-despair, and the assurance of safety.

17. With souls in purgatory it seems necessary that horror should grow less and love increase.

18. It seems unproved, either by reason or Scripture, that they are outside the state of merit, that is to say, of increasing love.

19. Again, it seems unproved that they, or at least that all of them, are certain or assured of their own blessedness, though we may be quite certain of it.

20. Therefore by “full remission of all penalties” the pope means not actually “of all,” but only of those imposed by himself.

21. Therefore those preachers of indulgences are in error, who say that by the pope’s indulgences a man is freed from every penalty, and saved;

22. Whereas he remits to souls in purgatory no penalty which, according to the canons, they would have had to pay in this life.

23. If it is at all possible to grant to any one the remission of all penalties whatsoever, it is certain that this remission can be granted only to the most perfect, that is, to the very fewest.

24. It must needs be, therefore, that the greater part of the people are deceived by that indiscriminate and highsounding promise of release from penalty.

25. The power which the pope has, in a general way, over purgatory, is just like the power which any bishop or curate has, in a special way, within his own diocese or parish.

26. The pope does well when he grants remission to souls [in purgatory], not by the power of the keys (which he does not possess), but by way of intercession.

27. They preach man who say that so soon as the penny jingles into the money-box, the soul flies out [of purgatory].

28. It is certain that when the penny jingles into the money-box, gain and avarice can be increased, but the result of the intercession of the Church is in the power of God alone.

29. Who knows whether all the souls in purgatory wish to be bought out of it, as in the legend of Sts. Severinus and Paschal.

30. No one is sure that his own contrition is sincere; much less that he has attained full remission.

31. Rare as is the man that is truly penitent, so rare is also the man who truly buys indulgences, i.e., such men are most rare.

32. They will be condemned eternally, together with their teachers, who believe themselves sure of their salvation because they have letters of pardon.

33. Men must be on their guard against those who say that the pope’s pardons are that inestimable gift of God by which man is reconciled to Him;

34. For these “graces of pardon” concern only the penalties of sacramental satisfaction, and these are appointed by man.

35. They preach no Christian doctrine who teach that contrition is not necessary in those who intend to buy souls out of purgatory or to buy confessionalia.

36. Every truly repentant Christian has a right to full remission of penalty and guilt, even without letters of pardon.

37. Every true Christian, whether living or dead, has part in all the blessings of Christ and the Church; and this is granted him by God, even without letters of pardon.

38. Nevertheless, the remission and participation [in the blessings of the Church] which are granted by the pope are in no way to be despised, for they are, as I have said, the declaration of divine remission.

39. It is most difficult, even for the very keenest theologians, at one and the same time to commend to the people the abundance of pardons and [the need of] true contrition.

40. True contrition seeks and loves penalties, but liberal pardons only relax penalties and cause them to be hated, or at least, furnish an occasion [for hating them].

41. Apostolic pardons are to be preached with caution, lest the people may falsely think them preferable to other good works of love.

42. Christians are to be taught that the pope does not intend the buying of pardons to be compared in any way to works of mercy.

43. Christians are to be taught that he who gives to the poor or lends to the needy does a better work than buying pardons;

44. Because love grows by works of love, and man becomes better; but by pardons man does not grow better, only more free from penalty.

45. Christians are to be taught that he who sees a man in need, and passes him by, and gives [his money] for pardons, purchases not the indulgences of the pope, but the indignation of God.

46. Christians are to be taught that unless they have more than they need, they are bound to keep back what is necessary for their own families, and by no means to squander it on pardons.

47. Christians are to be taught that the buying of pardons is a matter of free will, and not of commandment.

48. Christians are to be taught that the pope, in granting pardons, needs, and therefore desires, their devout prayer for him more than the money they bring.

49. Christians are to be taught that the pope’s pardons are useful, if they do not put their trust in them; but altogether harmful, if through them they lose their fear of God.

50. Christians are to be taught that if the pope knew the exactions of the pardon-preachers, he would rather that St. Peter’s church should go to ashes, than that it should be built up with the skin, flesh and bones of his sheep.

51. Christians are to be taught that it would be the pope’s wish, as it is his duty, to give of his own money to very many of those from whom certain hawkers of pardons cajole money, even though the church of St. Peter might have to be sold.

52. The assurance of salvation by letters of pardon is vain, even though the commissary, nay, even though the pope himself, were to stake his soul upon it.

53. They are enemies of Christ and of the pope, who bid the Word of God be altogether silent in some Churches, in order that pardons may be preached in others.

54. Injury is done the Word of God when, in the same sermon, an equal or a longer time is spent on pardons than on this Word.

55. It must be the intention of the pope that if pardons, which are a very small thing, are celebrated with one bell, with single processions and ceremonies, then the Gospel, which is the very greatest thing, should be preached with a hundred bells, a hundred processions, a hundred ceremonies.

56. The “treasures of the Church,” out of which the pope. grants indulgences, are not sufficiently named or known among the people of Christ.

57. That they are not temporal treasures is certainly evident, for many of the vendors do not pour out such treasures so easily, but only gather them.

58. Nor are they the merits of Christ and the Saints, for even without the pope, these always work grace for the inner man, and the cross, death, and hell for the outward man.

59. St. Lawrence said that the treasures of the Church were the Church’s poor, but he spoke according to the usage of the word in his own time.

60. Without rashness we say that the keys of the Church, given by Christ’s merit, are that treasure;

61. For it is clear that for the remission of penalties and of reserved cases, the power of the pope is of itself sufficient.

62. The true treasure of the Church is the Most Holy Gospel of the glory and the grace of God.

63. But this treasure is naturally most odious, for it makes the first to be last.

64. On the other hand, the treasure of indulgences is naturally most acceptable, for it makes the last to be first.

65. Therefore the treasures of the Gospel are nets with which they formerly were wont to fish for men of riches.

66. The treasures of the indulgences are nets with which they now fish for the riches of men.

67. The indulgences which the preachers cry as the “greatest graces” are known to be truly such, in so far as they promote gain.

68. Yet they are in truth the very smallest graces compared with the grace of God and the piety of the Cross.

69. Bishops and curates are bound to admit the commissaries of apostolic pardons, with all reverence.

70. But still more are they bound to strain all their eyes and attend with all their ears, lest these men preach their own dreams instead of the commission of the pope.

71 . He who speaks against the truth of apostolic pardons, let him be anathema and accursed!

72. But he who guards against the lust and license of the pardon-preachers, let him be blessed!

73. The pope justly thunders against those who, by any art, contrive the injury of the traffic in pardons.

74. But much more does he intend to thunder against those who use the pretext of pardons to contrive the injury of holy love and truth.

75. To think the papal pardons so great that they could absolve a man even if he had committed an impossible sin and violated the Mother of God — this is madness.

76. We say, on the contrary, that the papal pardons are not able to remove the very least of venial sins, so far as its guilt is concerned.

77. It is said that even St. Peter, if he were now Pope, could not bestow greater graces; this is blasphemy against St. Peter and against the pope.

78. We say, on the contrary, that even the present pope, and any pope at all, has greater graces at his disposal; to wit, the Gospel, powers, gifts of healing, etc., as it is written in I Corinthians xii.

79. To say that the cross, emblazoned with the papal arms, which is set up [by the preachers of indulgences], is of equal worth with the Cross of Christ, is blasphemy.
80. The bishops, curates and theologians who allow such talk to be spread among the people, will have an account to render.

81. This unbridled preaching of pardons makes it no easy matter, even for learned men, to rescue the reverence due to the pope from slander, or even from the shrewd questionings of the laity.

82. To wit: — “Why does not the pope empty purgatory, for the sake of holy love and of the dire need of the souls that are there, if he redeems an infinite number of souls for the sake of miserable money with which to build a Church? The former reasons would be most just; the latter is most trivial.”

83. Again: — “Why are mortuary and anniversary masses for the dead continued, and why does he not return or permit the withdrawal of the endowments founded on their behalf, since it is wrong to pray for the redeemed?”

84. Again: — “What is this new piety of God and the pope, that for money they allow a man who is impious and their enemy to buy out of purgatory the pious soul of a friend of God, and do not rather, because of that pious and beloved soul’s own need, free it for pure love’s sake?”

85. Again: — “Why are the penitential canons long since in actual fact and through disuse abrogated and dead, now satisfied by the granting of indulgences, as though they were still alive and in force?”

86. Again: — “Why does not the pope, whose wealth is to-day greater than the riches of the richest, build just this one church of St. Peter with his own money, rather than with the money of poor believers?”

87. Again: — “What is it that the pope remits, and what participation does he grant to those who, by perfect contrition, have a right to full remission and participation?”

88. Again: — “What greater blessing could come to the Church than if the pope were to do a hundred times a day what he now does once, and bestow on every believer these remissions and participations?”

89. “Since the pope, by his pardons, seeks the salvation of souls rather than money, why does he suspend the indulgences and pardons granted heretofore, since these have equal efficacy?”

90. To repress these arguments and scruples of the laity by force alone, and not to resolve them by giving reasons, is to expose the Church and the pope to the ridicule of their enemies, and to make Christians unhappy.

91. If, therefore, pardons were preached according to the spirit and mind of the pope, all these doubts would be readily resolved; nay, they would not exist.

92. Away, then, with all those prophets who say to the people of Christ, “Peace, peace,” and there is no peace!

93. Blessed be all those prophets who say to the people of Christ, “Cross, cross,” and there is no cross!

94. Christians are to be exhorted that they be diligent in following Christ, their Head, through penalties, deaths, and hell;

95. And thus be confident of entering into heaven rather through many tribulations, than through the assurance of peace.

It is said that Dr. Martin Luther, Prof. of Moral Philosophy, nailed his 95 Theses against the practice of selling indulgences to the door of the Castle Church in Wittenberg on October 31, 1517.

Although historians dispute whether Luther really did nail the theses to the door of the Castle Church, he did send his theses to friends and a few bishops; all of a sudden people knew where Wittenberg was. During the Seven Year’s War (1756-1763) the Castle Church, including the theses door, was severely damaged. The current theses door is bronze and all 95 Theses are inscribed onto it.

 

95 Luận Ðề Phản Chứng Của Tiến Sĩ Martin Luther Về Quyền Năng Và Thực Quả Của Bùa Giải Tội

919 views

95 Luận Ðề Phản Chứng Của
Tiến Sĩ Martin Luther Về Quyền Năng Và Thực Quả Của Bùa Giải Tội

Viết bởi Tiến sĩ Martin Luther ngày 31 tháng 10 năm 1517

 

Bản dịch viết bởi Tường Hân
ngày 7-8-2003 tại Surrey, British Columbia
Canada

Những luận đề dự thảo sau đây sẽ được thảo luận tại thành phố Wittenberg dưới sự chủ-tọa của Linh-mục Martin Luther, Cao-học Văn chương của Thần-học Sacred Theology, là Giảng-sư thực thụ của cùng môn học tại bản trường, được thúc đẩy bởi lòng yêu chuộng cùng sự ước mong được trình bày lẽ thật ra ánh sáng. Bởi vì cớ ấy, ông xin yêu cầu những vị nào không thể đến tham dự và tranh luận bằng lời với chúng tôi thì có thể dùng bài viết.
Trong danh Chúa Giê-xu Christ của chúng ta. A-men.

1. Khi Chúa Giê-xu Christ và là Chúa của chúng ta nói rằng “ Poenitentiam agite” tức: “Các ngươi hãy ăn năn,” thì Ngài muốn rằng suốt cả cuộc đời của người tin Chúa là một sự ăn năn.

2. Từ ngữ này không thể được hiểu như là nghi thức (bí tích) giải tội của Công giáo, tức là sự xưng tội và đọc kinh giải tội như cách mà các linh-mục đã làm.

3. Dầu vậy, từ ngữ này không phải chỉ nói về sự ăn năn bên trong không thôi: không đâu, không có một sự ăn năn bên trong nào mà lại không góp phần vào sự làm chết đi những gì của xác thịt.

4. Thế nên, hình phạt (của tội lỗi) vẫn còn tiếp-tục nếu sự ghét bỏ chính mình vẫn còn tiếp tục; bởi vì đây mới chính thực là sự ăn-năn bên trong, và sự ăn năn bên trong sẽ còn tiếp tục cho đến khi chúng ta bước vào thiên đàng.

5. Vị Giáo-hoàng không hề có ý định xóa bỏ, và cũng không đủ sức xóa bỏ bất kỳ một hình phạt nào, ngoại trừ những hình phạt mà ông đã áp đặt, hoặc bằng chính thẩm quyền của mình, hoặc bằng thẩm quyền của Giáo luật.

6. Vị Giáo-hoàng không thể xóa được bất kỳ một tội nào, trừ phi bằng cách công bố rằng tội ấy đã được Đức Chúa Trời xóa bỏ, và bằng cách chấp nhận sự tha tội của Đức Chúa Trời; dầu vậy, để cho được chắc chắn, vị Giáo-hoàng có thể ban sự tha tội trong những vụ nào đã được để riêng ra chờ sự phán quyết của ông. Nếu quyền ban cho sự tha-tội của ông trong những vụ ấy bị khinh thường, thì tội ấy vẫn hoàn toàn chưa được tha.

7. Đức Chúa Trời không tha tội cho bất kỳ người nào mà Ngài không đồng thời bắt phục họ trở nên khiêm nhường trong mọi mặt, và khiến người phải chịu thuận phục vị cha xứ của Ngài, tức vị linh-mục sở tại.

8. Những giáo luật về sự ăn năn chỉ được áp đặt trên người còn sống, và theo như những giáo-luật ấy, chúng ta không nên áp-đặt một điều gì trên người sắp chết.

9. Thế nên, Đức Thánh-Linh ngự trong vị Giáo-hoàng tỏ ra rất nhân từ với chúng ta, bởi vì trong những đạo luật của ông , ông luôn xem những điều khoản nói về sự chết và về nhu cầu là những trường hợp ngoại lệ.

10. Trong trường hợp những người sắp chết, mà những linh-mục nào lại để dành cách giải tội theo như giáo điều cho đến khi những người này vào “ngục luyện tội” , thì đó là những việc làm vô tâm và độc ác.

11. Việc đổi hình phạt theo giáo luật thành hình phạt của ngục luyện tội rõ ràng là một trong những giống cỏ lùng đã được gieo ra trong lúc các vị giám-mục đang ngủ.

12. Trong thời gian trước đây, những hình phạt theo giáo luật được áp đặt trước khi, chứ không phải được áp đặt sau khi đã được tha tội, như là những sự chứng nghiệm về sự ăn-năn thật.

13. Người sắp chết được miễn tất cả mọi hình phạt khi họ qua đời; vì họ xem như đã chết rồi đối với những giáo luật, và có quyền được giải thoát khỏi những giáo luật đó.

14. Sự lành mạnh không toàn hảo (của linh hồn), tức chúng tôi muốn nói rằng, tìnhyêu không toàn hảo của người sắp chết mang đến sự sợ hãi lớn không thể tránh được; nếu tình yêu đó càng ít, thì sự sợ hãi càng lớn.

15. Sự sợ hãi này cùng sự kinh khiếp tự chúng đã đủ để tạo thành hình phạt của ngục luyện tội, bởi vì điều ấy rất gần với sự kinh khiếp của tuyệt vọng.

16. Địa ngục, ngục luyện tội, và thiên đàng có vẻ như khác biệt nhau một cách tương tự như sự khác biệt giữa tuyệt vọng, gần tuyệt vọng, và sự bảo đảm an toàn.

17. Đối với những linh hồn ở trong ngục luyện tội thì điều cần có là sự kinh khiếp nên giảm đi và tình yêu thương phải tăng lên.

18. Chúng ta thấy điều có vẻ như không chứng minh được, dù bằng lý luận hay bằng Kinh thánh, là những linh hồn ấy ở ngoài tình trạng được thưởng, chúng tôi muốn nói là, tình trạng tình yêu thương được tăng thêm.

19. Còn nữa, điều chúng ta thấy có vẻ như không chứng minh được là họ, hay ít ra là tất cả những linh hồn ấy lại tỏ ra chắc chắn, hoặc được cho biết chắc về tình trạng được phước của chính họ, mặc dù chúng ta biết khá chắc chắn về việc này.

20. Thế nên, khi nói rằng “xóa bỏ hoàn toàn mọi hình phạt,” thì vị Giáo-hoàng không thực sự có ý nói là “mọi hìnhphạt“ nhưng chỉ nói những hình phạt nào mà chính ông đã áp đặt.

21. Thế nên, những người nào giảng về bùa giải tội đều là sai, tức những người nào nói rằng qua bùa giải tội của vị Giáo-hoàng thì một người sẽ được giải thoát khỏi mọi hình phạt, và linh-hồn sẽ được cứu;

22. Trong khi đó vị Giáo-hoàng lại không xóa một hình phạt nào cho những linh hồn ở trong ngục luyện tội, mà đáng lý ra theo giáo luật, họ đã phải trả trước rồi trong đời này.

23. Nếu bằng mọi cách nào có thể được để ban sự xóa sạch mọi hình phạt cho bất kỳ ai dù tội ấy có như thế nào đi chăng nữa, thì điều chúng ta biết chắc rằng sự xóa tội này chỉ có thể ban được cho những ai toàn hảo nhất, tức là, chỉ cho một số người ít nhất.

24. Thế nên, điều ắt có và phải có là phần lớn người ta đã bị đánh lừa bởi lời hứa lầm lẫn về sự giải thoát khỏi hình phạt nghe rất kêu này.

25. Nói một cách tổng quát, thẩm quyền mà vị Giáo-hoàng có được trên ngục luyện tội, là chỉ giống như thẩm quyền mà bất kỳ một vị giám-mục, hay một vị cha xứ có trong vòng địa phận, hay giáo xứ của họ, trong trường hợp riêng biệt này.

26. Vị Giáo-hoàng làm một điều phải, khi người ban phát sự xóa tội cho những linh hồn (ở trong ngục luyện tội), không bởi quyền năng của chìa khóa ngục (mà chính người không có giữ), nhưng bởi sự cầu thay.

27. Người ta đã giảng dạy rằng ngay khi những đồng tiền rơi leng-keng vào trong hộp tiền dâng, thì các linh hồn sẽ bay ra khỏi (ngục luyện tội)

28. Điều chắc chắn là khi các đồng tiền rơi leng-keng vào trong hộp tiền dâng, thì vật chất và lòng tham vật chất có thể tăng lên, nhưng kết quả sự cầu thay của Hội-thánh nằm trong quyền năng của chỉ riêng Đức Chúa Trời mà thôi.

29. Nào ai biết được rằng có phải mọi linh hồn trong ngục luyện tội đều muốn được chuộc ra khỏi nơi đó hay không, như trong huyền thoại của thánh đồ Severinus và thánh đồ Paschal.

30. Không một ai biết được chắc chắn rằng sự ăn năn của chính họ là thành thật hay không, đừng nói chi đến việc họ có nhận được sự xoá tội hoàn toàn hay không.

31. Người thực sự ăn năn tội lỗi đã thật hiếm rồi, mà người thực sự tin vào bùa giải tội cũng hiếm tương tự; nghĩa là những người như vậy cực kỳ hiếm có.

32. Họ sẽ bị rủa sả đời đời cùng với các thầy giáo của họ, là những người tin rằng chính họ cảm thấy chắc chắn về sự cứu rỗi của mình bởi vì họ có thư ân xá.

33. Quý vị phải cảnh giác về những người nào nói rằng sự ân xá của vị Giáo-hoàng là quà tặng của Đức Chúa Trời lớn không tưởng được mà nhờ đó con người được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời;

34. Bởi vì những “ân-điển của sự ân-xá” này chỉ quan tâm đến những hình phạt về sự chuộc tội theo giáo điều, và những điều này do con người định ra.

35. Họ giảng rằng không một giáo ý Cơ-đốc nào dạy dỗ rằng không cần thiết phải có sự ăn năn cho những người nào định mua linh hồn ra khỏi ngục luyện tội , hoặc định mua lời xưng tội.

36. Mọi Cơ-đốc-nhân nào mà thực-sự ăn năn đều có quyền được tha các hình phạt và xóa tội hoàn toàn, ngay cả khi họ không có thư ân xá.

37. Mọi Cơ-đốc-nhân thật, dù còn sống hay đã chết, đều được dự phần trong mọi ơn phước của Chúa Giê-xu Christ và của Hội-thánh; và điều này được chính Đức Chúa Trời ban cho, ngay cả khi họ không có thư ân xá.

38. Tuy nhiên, sự xóa tội và dự phần (vào ơn phước của Hội-thánh) nào mà đã được vị Giáo-hoàng ban cho thì không ai có quyền khinh rẻ, bởi vì như tôi đã nói, chúng là sự công bố của sự tha tội thiên-thượng.

39. Thật là một điều khó khăn nhất, cho ngay cả những nhà thần học sắc bén nhất, là trong một lần, và cùng một lúc, tuyên-dương với dân chúng sự dư dật của ân xá và (sự cần thiết) phải có của ăn năn thật.

40. Sự ăn năn thật tìm kiếm và yêu mến hình phạt, nhưng sự ân xá không nghiêm chỉnh chỉ làm nhẹ đi hình phạt, và khiến chúng trở nên bị ghét bỏ, hay ít ra, tạo cơ hội cho việc ấy (để ghét bỏ chúng).

41. Sự ân xá bởi các thánh đồ cần được giảng dạy một cách dè dặt, vì sợ rằng dân chúng có thể nghĩ một cách sai lầm rằng điều này tốt hơn là những việc lành khác của tình yêu thương.

42. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng vị Giáo-hoàng không có ý định rằng người ta đem so sánh dưới bất cứ hình thức nào việc mua sự ân xá với việc làm do lòng thương xót.

43. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng ai giúp đỡ kẻ nghèo khó, hay cho người đang cần dùng vay mượn thì làm việc lành tốt hơn là mua giấy ân xá;

44. Bởi vì tình yêu thương được sanh ra bởi những việc làm của tình yêu thương, và con người nhờ đó sẽ trở nên tốt hơn; nhưng con người không trở nên tốt hơn bởi giấy ân xá, mà chỉ được tự do khỏi sự hình-phạt hơn .

45. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng ai thấy người khác đang có nhu cầu nhưng bỏ tránh xa và dùng (tiền của mình) mua sự ân xá, thì người ấy không phải mua được bùa giải tội của vị Giáo-hoàng, nhưng mua lấy sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời.

46. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng trừ phi họ có nhiều hơn những gì họ cần, họ bắt buộc phải giữ lại những gì cần thiết cho chính gia đình họ, và không được dùng phung phí cho giấy ân xá dưới bất cứ hình thức nào.

47. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng việc mua giấy ân xá là vấn đề tự ý, không phải là điều răn.

48. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng khi ban cho sự ân xá, vị Giáo-hoàng cần, và do đó, ông cũng mong mỏi những lời cầu nguyện khẩn thiết của họ dành cho ông hơn là những món tiền các Cơ-đốc-nhân này đem đến.

49. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng những sự ân-xá của vị Giáo-hoàng là có ích, nếu họ không đặt niềm tin vào chúng, nhưng chúng hoàn toàn là có hại, nếu bởi vì cớ chúng mà họ mất đi lòng kính sợ Đức Chúa Trời.

50. Cơ-đốc-nhân phải được dạy dỗ rằng nếu vị Giáo hoàng biết được những thủ đoạn vòi tiền của những người giảng dạy về sự ân xá, thì người sẽ ước thà rằng ngôi vương cung thánh đường St. Peter bị thiêu hủy thành tro bụi còn hơn là để ngôi nhà này được dựng nên bằng da thịt, máu xương của bầy chiên người.

51. Cơ-đốc-nhân cần được dạy dỗ rằng điều mà vị Giáo-hoàng ước uốn , và đồng thời cũng chính là bổn hận của người, là phải đem tiền của chính mình đi cho rất nhiều người khác mà trước đây đã bị những kẻ rao bán sự ân xá dụ dỗ tiền bạc, cho dù người phải bán đi ngôi vương cung thánh đường St. Peter để làm việc ấy.

52. Sự bảo đảm cứu rỗi nhờ thư ân xá là vô- ích, ngay cả khi người được ủy-nhiệm, không đâu, ngay cả khi chính vị Giáo-hoàng đặt linh hồn của người lên để bảo đảm.

53. Những kẻ nào mà bưng bít lời Chúa để hoàn toàn không được rao giảng tại một số Hội-thánh hầu cho sự ân xá được rao giảng ở những chỗ khác, thì ấy là kẻ thù của Đấng Christ và của vị Giáo-hoàng.

54. Khi trong cùng một bài giảng mà người ta dùng thời gian bằng hay nhiều hơn để giảng về sự ân xá so với thời gian giảng lời Chúa, thì điều này làm thươngtổn đến Lời của Đức Chúa Trời.

55. Ý định của vị Giáo-hoàng bắt buộc phải là, nếu sự ân xá, vốn là một việc rất nhỏ, được đón mừng bằng một tiếng chuông cùng một lần diễn hành và nghi lễ, thì Phúc âm của Chúa, chính là một điều thật vĩ đại, phải được rao giảng với một trăm hồi chuông, một trăm lần diễn hành và một trăm lần nghi lễ.

56. Những “bảo vật của Hội-thánh” mà vị Giáo-hoàng đã dùng để ban phát bùa giải tội, đã không được nêu tên đúng mức và cũng không được biết đến trong vòng dân sự của Đức Chúa Trời.

57. Rằng chúng không phải là bảo vật tạm thời là điều rõ ràng lắm, bởi vì rất nhiều kẻ bán rao đã không ban những bảo vật này ra một cách dễ dàng đâu, nhưng chỉ thâu lượm chúng mà thôi.

58. Và chúng cũng không là những công đức của Đấng Christ và của các Thánh, bởi vì ngay cả khi không có vị Giáo-hoàng, thì những điều này trở nên ân điển cho con người bề trong, và là thập-tự-giá, sự chết, và địa ngục cho con người bề ngoài.

59. Thánh Lawrence nói rằng những bảo vật của Hội-thánh là những kẻ nghèo khó của Hội-thánh, nhưng người nói vậy là theo như cách dùng ngôn từ của thời người đang sống.

60. Chúng tôi có thể nói một cách không cẩu thả rằng chìa khóa của Hội-thánh, mà đã được ban-cho bởi công đức của Đấng Christ, chính là bảo vật ấy;

61. Bởi vì điều chúng ta thấy rõ là để có thể xóa bỏ những hình phạt và những trường hợp được dành riêng cho người, thì thẩm quyền của vị Giáo-hoàng tự nó đã là đủ.

62. Bảo vật thật của Hội-thánh là Phúc-âm chí thánh của sự vinh hiển và ân điển của Đức Chúa Trời.

63. Nhưng bảo vật này lẽ tự nhiên là đáng ghét nhất, vì nó khiến kẻ đầu trở nên kẻ sau rốt.

64. Mặt khác, bảo vật bùa giải tội thì lẽ tự nhiên là dễ chấp nhận nhất, vì nó khiến kẻ sau rốt trở nên kẻ đầu.

65. Thế nên, những bảo vật của Phúc-âm là những cái lưới mà trước đây họ quen dùng để đánh lưới những con người của sự giàu-có.

66. Còn bảo vật của bùa giải tội là những cái lưới mà bây giờ họ dùng để đánh lưới những sự giàu có của con người.

67. Những bùa giải tội mà các thầy giảng kêu lên rằng ấy là “những ân điển vĩ đại nhất,” thì đã được người ta biết quả là có như vậy, nếu chỉ nói đến việc chúng góp phần vào sự gia tăng lợi lộc.

68. Nhưng thực ra chúng là những ân-điển nhỏ nhất so với ân điển của Đức Chúa Trời và sự đạo đức của Thập-tự-giá.

69. Các giám-mục và cha xứ bắt buộc phải công nhận sự uỷ-nhiệm của ân xá bởi sứ đồ bằng tất cả lòng tôn kính.

70. Nhưng họ còn bị bắt buộc nhiều hơn thế nữa, là họ phải mở mắt to để nhìn cho rõ, lắng tai nghe thật chăm chú, vì e rằng những thầy giảng này rao giảng những giấc mơ riêng của họ thay vì rao giảng những gì theo sự uỷ nhiệm của vị Giáo-hoàng.

71. Người nào mà nói nghịch lại lẽ thật về sự ân xá bởi sứ đồ, nguyện cho hắn bị tuyệt thông (a-na-them) và bị rủa sả !

72. Nhưng người nào chống trả lại dục vọng và sự cấp phép cho các thầy giảng bùa ân xá, thì nguyện người ấy được hưởng phước!

73. Vị giáo hoàng đã làm việc công chính khi người cảnh cáo những kẻ đã dùng mọi xảo thuật để mưu định sự thương tổn của việc mua bán thư ân xá.

74. Nhưng người còn định cảnh cáo nhiều hơn thế nữa những kẻ nào dùng chiêu bài ân xá để mưu định sự thương tổn của tình yêu thương và lẽ thật thánh thiện.

75. Nếu ai nghĩ rằng sự ân xá của vị Giáo-hoàng là vĩ đại đến độ chúng có thể xóa sạch tội cho một người ngay cả khi người ấy đã phạm một tội lớn không tưởng được và đã xâm phạm đến người mẹ của Đức Chúa Con – thì đấy là sự điên cuồng.

76. Trái lại, chúng tôi nói rằng, sự ân xá của vị Giáo-hoàng không đủ sức để xóa đi những tội dù nhỏ nhất của những tội loại không đáng chết.

77. Người ta còn nói rằng, ngay cả thánh Phi-e-rơ (Phê-rô) nếu bây giờ là vị Giáo-hoàng, cũng không thể ban cho ân điển lớn hơn được; đây là lời phạm thượng đối với thánh Phi-e-rơ (Phê-rô) và đối với vị Giáo-hoàng.

78. Trái lại, chúng tôi nói rằng, ngay cả vị Giáo-hoàng hiện tại, hay bất kỳ một vị Giáo-hoàng nào nói chung, đều có sẵn những ân điển lớn hơn để người tùy tiện sử dụng; tức là Phúc-âm, quyền năng, ơn-tứ chữa bệnh, v.v… như đã được chép trong 1 Cô-rinh-tô 12.

79. Nếu người ta nói rằng thập-tự-giá, khi được chạm trổ cầu kỳ bằng huy hiệu của vị Giáo-hoàng , vốn là sự xếp đặt (bởi những kẻ rao giảng về thư ân xá), thì có giá trị ngang với Thập-tự-giá của Đấng Christ, thì ấy là tội phạm thượng.

80. Các vị giám-mục, linh-mục và các vị giáo-sư thần-học nào mà cho phép những câu chuyện như vậy lan truyền trong vòng dân sự thì sẽ có một món nợ phải trả.

81. Sự giảng dạy không hạn chế về thư ân xá này khiến cho sự việc trở nên không dễ dàng, cho ngay cả những người giầu kiến-thức, để có thể cứu vãn sự tôn kính mà vị Giáo-hoàng đáng được hưởng khỏi bị hoen ố, kể cả việc cứu vãn khỏi những câu hỏi tinh tế của hàng giáo dân.

82. Tức họ nói rằng: ”Tại sao vị Giáo-hoàng lại không đại phóng thích ngục luyện tội vì cớ tình yêu thương, và vì nhu-cầu cấp bách của những linh hồn hiện đang ở đó, mà lại cứu vô số kể những linh hồn để được những món tiền đáng thương, rồi dùng tiền đó để xây thánh đường? Những lýdo đầu thật công-bình, còn những lý do sau thì thật là vụn vặt.”

83. Còn nữa: ”Tại sao những thánh lễ an táng và kỷ niệm tang lễ cho người đã chết vẫn còn được tiếp tục, và tại sao vị Giáo-hoàng lại không thay mặt cho họ hoàn lại, hay cho phép rút ra khoản tiền hứa dâng, bởi vì việc cầu nguyện cho người đã được cứu chuộc là điều sai trật? “

84. Còn nữa:”Sự đạo đức mới này của Đức Chúa Trời và của vị Giáo-hoàng là như thế nào, khi chỉ vì tiền mà các Đấng ấy lại cho phép một người vốn là vô đạo đức và là kẻ thù của các Đấng ấy, mua ra khỏi ngục luyện tội một linh hồn đạo đức của một người bạn Đức Chúa Trời, mà các Đấng ấy lại không vì chính nhu cầu của linh hồn đạo đức thân yêu ấy mà giải thoát linh hồn này bởi cớ một tình yêu thương đơn thuần ?”

85. Còn nữa: ”Tại sao qua những dữ kiện thực tế và qua sự không xử dụng cho thấy rằng những kinh giải tội đã bị mất hiệu lực và đã chết từ lâu rồi, mà bây giờ chúng lại được xem là đủ điều kiện qua sự ban bố bùa giải tội, như thể là chúng vẫn còn sống, và đang sống một cách mạnh mẽ ?”

86. Còn nữa: ”Tại sao vị Giáo-hoàng, ngày hôm nay vốn là người mà sự giàu có còn hơn cả người giàu nhất của những người giàu, lại không dùng tiền của chính mình để xây ngôi vương cung thánh đường St. Peter, mà lại dùng tiền của những tín đồ nghèo để xây ? “

87. Còn nữa: ”Vị Giáo-hoàng tha những gì, và người ban bố sự dự phần nào cho những người mà qua sự ăn năn hoàn toàn của họ, họ có quyền được hưởng sự tha tội hoàn toàn và được dự phần hoàn toàn ?

88. Còn nữa: ”Có ơn phước nào đến với Hội-thánh lớn hơn bằng ơn phước khi vị Giáo-hoàng ngày hôm nay chỉ cần làm một lần những gì người mà trước đây người phải làm hằng trăm lần mỗi ngày, và ban phát được cho mọi tín đồ những sự tha tội và dự phần này ?

89. “Bởi vì vị Giáo-hoàng, qua sự ân-xá của người , đi tìm-kiếm sự cứu-rỗi cho linh-hồn hơn là đi tìm tiền-bạc, thì tại sao người lại đình-chỉ những bùa giải-tội và thư ân-xá đã được ban-bố từ trước đến bây giờ, trong khi những vật này có thực-quả tương-đương ?

90. Nếu chỉ dùng sức mạnh để bắt phục những sự tranh luận và ngờ vực của hàng giáo dân, mà không giải quyết bằng cách trình bày lý lẽ, tức là phơi bày Hội-thánh và vị Giáo-hoàng cho kẻ thù bêu riếu, và làm cho các Cơ-đốc-nhân buồn lòng.

91. Cho nên, nếu những thư ân xá được rao giảng theo tâm linh và tâm trí của vị Giáo-hoàng, thì tất cả những ngờ vực này sẽ được hóa giải dễ dàng; không phải vậy, chúng sẽ không còn hiện hữu.

92. Vậy đó, hỡi những tiên tri nào mà nói với dân sự của Đấng Christ rằng ”Bình an, bình an,”  trong khi không có sự bình an, các ngươi hãy dang xa ra !

93. Nguyện ơn phước đến cho những tiên tri nào nói với dân sự của Đấng Christ là: ”Thập-tự-giá, thập-tự-giá,” trong khi không có thập-tự-giá!

94. Cơ-đốc-nhân phải được thúc giục rằng họ cần phải bền đỗ trong việc theo Đấng Christ, là Đầu của họ, để vượt qua những hình phạt, sự chết, và địa ngục;

95. Và vì thế, họ sẽ trở nên tin quyết về việc vào thiên đàng qua nhiều sự khổ nạn, hơn là qua sự bảo đảm bình an.

Tuonghan0603 : martin luther 95 propositions.tieng viet.02.16082003

Lời Chào Tái Ngộ – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

866 views

Thưa quí vị:

 

Bẳng đi một thời gian, vì bận với các mục vụ do Giáo hội Lutheran giao phó, tôi đã không thể post các bài viết mới. Lý do thứ hai, Webmaster của Trang Nhà Hội Thánh Lutheran cho biết rằng hình thức của Website sẽ được cải tiến với WordPress…

Nay Trang Nhà Hội Thánh Lutheran Houston, Texas có một bộ mặt mới.  Đấy cũng do công trình của Webmaster Tim Huỳnh chăm sóc. Hội thánh Lutheran chân thành cảm ơn ông Tim Huỳnh đã để ra nhiều công sức, thì giờ để tạo nên Trang Nhà mới của Hội thánh hiện đang có.

Trong Chúa,

Mục sư Nguyễn Hữu Ninh
Houston, Texas USA
September 14, 2014

Sáu Bước Đơn Giản Để Giữ Đầu Óc Minh Mẫn

1,574 views

Mehmet Oz và Michael Roizen Nguyễn Minh Tâm dịch theo S.F Examiner

Sáu  Bước Đơn Giản Để Giữ Đầu Óc Minh Mẫn

Khám phá mới nhất bây giờ để ngăn ngừa bệnh Alzheimer là vitamine D3, mỗi ngày uống 2000IU, uống liên tục đến khi qua đời.Khám phá này đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Dĩ nhiên là cách ăn uống của Mehmet Oz và BS Michael Roizen rất tốt, nhưng vitamine D3 vẫn là chính.

Phòng bệnh Alzheimer Bài viết của hai bác sĩ Mehmet Oz và Michael Roizen
Nguyễn Minh Tâm dịch theo S.F Examiner

→ Đọc tiếp…