Siêu Bão Harvey và Những Tấm lòng Vàng – Ngy. Uyên

72 views

Theo tài liệu thống kê của Chánh quyền Liên bang Hoa Kỳ, năm 2016, Houston có khoảng 5 triệu dân, 50% là tín hữu Protestant, 19% là Roman Catholic. Houston có diện tích 8,260 dặm vuông và đã được xem là thành phố lớn hàng thứ tư tại Hoa Kỳ.
Một tuần lễ trước ngày Hurricane Harvey đổ bộ xuống Houston, NASA Weather Forecasting đã lên tiếng rằng cơn bão cấp 4 Harvey đang ở ngoài khơi với sức mạnh 120 dặm một giờ, thành phố Houston sẽ phải hứng chịu những ngày mưa 100% dai dẵng gần suốt một tuần lễ. Và NASA cũng đã tiên đoán rằng sẽ có cơn lũ lụt kinh hoàng xảy đến cho thành phố Houston!

Vào đêm thứ Sáu ngày 25-8-2017, Harvey đổ bộ (landfall) tại các thành phố vùng duyên hải như Corpus Christi, Rock Port, Victoria … gây nên những thiệt hại nặng nề về vật chất: có nhiều nhà cửa, cơ sở thương mại tan hoang. Sau đó, Hurricane Harvey tiến vào thành phố Houston nhưng với tốc độ chậm dần dần, Harvey giảm xuống cấp 1 nhưng mưa lại đổ xuống liên tiếp trong đêm thứ Sáu, trọn ngày thứ Bảy, cả ngày Chúa nhật và ngày thứ Hai tạo nên hậu quả là Houston chìm trong biển nước. Những con đường phố trở nên như các dòng sông, nhiều ô-tô bị ngập đến gần mui xe. Ống kính do các phóng viên TV cameramen thu hình cho thấy có một xe truck 18 bánh bị lật ngang…

Dân chúng sống tại các thành phố như Rosenberg, Richmond, Wharton, Friendwood, Dickingson được lệnh di tản trong ngày thứ Hai 28-8. Về sau, mực nước cứ dâng cao thêm lên, dân tại vùng Sienna Plantation, Pecan Grove (khu trung lưu) cũng bắt đầu di tản. Tưởng cũng nên nói thêm, một số nhà cửa thuộc các địa danh vừa kể trên bị thiệt hại vì bị những trận cuồng phong (tornado) hoành hành, cây cối ngả đổ trên đường.

Dân sống tại khu Kingwood gần Phi cảng Quốc tế George Bush (59 North) thuộc giới trung lưu, có những căn nhà từ nửa triệu trở lên, chung quanh là những rừng cây thông xanh rất đẹp; tuy nhiên, nơi đây gần Lake Livingston, mực nước hồ dâng lên tràn vào các con đường trong khu nhà ở. Vì thế, họ cũng được lệnh di tản.

Trở lại với thành phố Houston, Hurricane Harvey 1 đến với tốc độ chậm; vì thế, bão không làm nhà cửa tan tành nhưng bão này đã trút xuống số lượng mưa quá nhiều. Thường thường các cơn bão đến hoành hành rồi đi tiếp, nhưng có điều kỳ quái là Hurricane Harvey 1 này không chịu đi luôn và bão cứ quần đi quần lại trên thành phố Houston nhiều ngày, trút xuống những cơn mưa. Sau đó, bão quay trở lại vùng biển để chuẩn bị cho một tiến công khác gọi là Hurricane Harvey 2 đổ bộ vào Houston lần thứ hai. Đến đợt thứ hai này, thứ Tư ngày 30-8, cơn bão đến Baytown, Port Arthur, Beaumont cách Houston hai giờ lái xe về phía đông, trên I-10. Nước ngập lụt đến gần mái nhà, chánh quyền ra lệnh bắt buộc dân phải di tản. Thế rồi Harvey 2 tiếp tục tiến đến tiểu bang Louisiana, Arkansas và Tennesse vào ngày 31-8 tạo nên cơn lũ lụt tại các thành phố nơi ấy.

Trong suốt 42 năm qua sống tại Houston, tôi đã chứng kiến nhiều cơn bão lớn như sau đây:

Hurricane Tropical Alisson (1995)

Bão Alisson đến Houston ngày 20-6-1995 đổ mưa xuống, nước dâng lên 40 inches làm ngập 70,000 căn nhà, 30,000 người trở nên vô gia cư, 2,744 căn nhà bị thiệt hại hoàn toàn, 21 người tử vong đưa đến tổng số thiệt hại vật chất là 9 tỉ đô-la, kể luôn những tiểu bang vùng đông bắc khi bão này đi qua.

Bão Katrina, New Orleans (2005)

Tôi đã xem trên TV về siêu bão cấp 5 Katrina từ ngoài đại dương với vận tốc 175 dặm một giờ (280 km/1g) đến New Orleans vào ngày 29-8-2015 thì hạ xuống chỉ còn là bão cấp 3 với vận tốc 125 dặm 1 giờ (200 km/1giờ). Bão đã làm vỡ bờ đê khiến nước biển tràn vào thành phố. Có 1,836 người bị tử vong, nhà cửa bị hư hại vì nước lụt ở lại trong thành phố quá lâu nâng tổng số thiệt hại về vật chất lên 108 tỉ đô-la. Trong thảm cảnh này có những phần tử xấu lợi dụng cơ hội rủ nhau đập phá các cửa tiệm buôn bán để hôi của hoặc thanh toán lẫn nhau. Đây là một thành phố tội lỗi, có nhiều sòng bạc, buôn bán bạch phiến ma-túy. Vào thời điểm ấy, Trung tá Lương Xuân Việt là Tiểu Đoàn Trưởng của đạo quân tinh nhuệ của Hoa Kỳ là binh chủng nhảy dù 82nd Airborne lừng lẫy. Ông đã chỉ huy đơn vị của mình tảo thanh thành phần bất hão để mang lại nền an ninh cho New Orleans sau những tuần lễ bất an. Hiện nay, ông đã được vinh thăng chuẩn tướng và đang giữ chức vụ rất quan trọng trong Quân lực Hoa Kỳ tại Thủ đô Seoul, S. Korea.

Bão Rita (2005)

Ngày 24-9-2005 bão Rita từ ngoài khơi là bão cấp 5 nhưng khi Rita vào đất liền thì xuống thành cấp 3 với vận tốc 124 dặm 1 giờ tiến vào Houston làm cho 4,526 căn nhà tại các thành phố Orange, quận Jefferson bị hủy hoại, 14,256 căn nhà khác bị hư hại trầm trọng, 26,211 căn nhà khác bị thiệt hại nâng số tử vong là 113 người, mất 12 tỉ đô-la tính theo thời giá năm 2017 là 15.6 tỉ.

Tưởng cũng nên nói, trước khi Bão Rita đến, chánh quyền tại Houston ra lệnh cho dân di tản nhưng vì không có kế hoạch đúng, hằng triệu ô-tô ra khỏi thành phố phải nhích từng tí -chứ không phải chạy- trên các xa lộ I-45 để đi Dallas hoặc US 290 để đi Austin, I-10 để đến San Antonio tạo nên thảm cảnh xe thì kẹt cứng, cạn xăng, thiếu nước uống, thức ăn, lại có tai nạn: xe bus bốc lủa đang khi chở người tị nạn gồm những người già cả bệnh tật làm cho nhiều người trong xe chết cháy. Sau cơn bão Rita, tổng số tử vong là 113 người.

Bão Ike (2008)

Ngày 13-8-2008, Bão Ike đến vùng biển Galveston với sức gió thổi 145 dặm 1 giờ sau khi bão đã đến các quốc gia Bahama, Cuba, Cayman Island, Southeast Texas, South Central United States, Great Lales Region, Canada. Bão Ike tạo hậu quả với tổng số thiệt hại vật chất là 37.5 tỉ đô-la nhưng bão này không đến và hoành hành trên thành phố Houston…

Bão Harvey 1 và 2 (2017)

Đây là cơn bão kỳ lạ nhất vì tạo nên cảnh lụt lội lịch sử kể từ hằng trăm năm qua tại Houston. Bão Harvey đến nhưng không chịu đi mà cứ quay quần trên đầu Houston để trút xuống 30 tỉ thước khối (m3) trong suốt ba ngày mưa dai dẵng nước mưa dâng lên mức 50 inches bằng một khối lượng nước mưa cho suốt cả một năm tại Việt nam, là nơi có mưa nhiều. Bão Harvey tạo nên những cơn mưa to, lâu và dài gấp 5-10 lần so với các bão tố trước đây. Khi bão Harvey đi qua, mưa tạm ngừng, thế rồi nước ở các lakes, sông ngòi, bayou, reservois (nơi dự trữ nước) dâng lên cao ngất. Chánh quyền phải áp dụng biện pháp xả nước từ hai reservois Barker và Addicks, thế là tại những vùng đất khác của Houston lại hứng chịu thêm cảnh lũ lụt…

Harvey’s Aftermath

THIỆT HẠI

Sau khi Hurricane Harvey 1 và 2 đi qua, mang số lượng nước mưa đổ xuống liên tiếp từ đêm thứ Sáu ngày 25 cho đến thứ Ba ngày 29 đã nâng mực nước tại các ao hồ, bayou, sông ngối lên cao… Nước tràn vào đầy trên những đường phố và trở thành các dòng sông…

Tính cho đến thứ Năm ngày 30-8-2017, tổng số số nhà cửa bị thiệt hại là trên 136,000. Có khoảng 50,000 nhà bị mất điện, hiện đang có 32,000 nhà nộp đơn xin FEMA trợ giúp. Số người tử vong là 39 (1-9-2017). Riêng thành phố Port Arthur cách Houston 2 giờ lái xe với 119,000 dân bị thiệt hại trầm trọng, nhà máy cung cấp nước hoàn toàn bị ngưng hoạt động. Toàn thành phố Houston và những vùng lân cận có khoảng 500,000 ô-tô gồm xe của dân chúng và xe mới lẫn cũ thuộc các dealers bán ô-tô đã bị hư hại vì lũ lụt.
Trong những ngày vừa qua , sinh hoạt của người dân tại Houston đã bị đảo lộn, những xe trucks lấy rác, bưu điện ngưng sinh hoạt…

Vào chiều thứ Năm ngày 31-8, nhà máy Chemical Arkemal Plant phát nổ. Đây là nhà máy sản xuất peroxit hữu cơ, thường được xử dụng trong các sản phẩm hàng ngày như mặt bếp, sơn kỹ nghệ, cốc polystyrene và ống nhựa PVC. Nhà máy này tại thành phố Crosby cách Houston 32 dặm bị chìm trong biển nước 1m trong cơn bão lụt Harvey; vì thế, nhà máy bị mất hệ thống điện lực. Viên chức manager của nhà máy cho biết rằng các vật liệu hóa học trong nhà máy cần phải được làm lạnh, nhưng các máy lạnh đã ngừng hoạt động do lũ lụt đã cắt đứt nguồn điện, trong khi các máy phát điện dự phòng cũng bị ngập nước, nghĩa là “nguy cơ của một phản ứng hóa học dẫn đến cháy nổ trong khu vực nhà máy là thực sự hiện hữu”.

Khi nổ thì khói tung bay ra làm cho đôi mắt bị ngứa, da bị ngứa, khói đi vào mủi, cổ họng, đi vào phổi và mùi của khói làm cho đau đầu…

Sau cơn bão, có hơn 12 nhà máy lọc dầu tại The Gulf đã đóng cửa, ConocoPhilips tại Houston, ExxonMobil tại Baytown được kể là lớn hàng nhì tại Hoa Kỳ thông thường bơm 560,000 thùng dầu mỗi ngày. Công ty lớn hàng thứ ba là Gulf Coast… Một số nhà máy lọc dầu từ từ phải đóng lại từ đây cho đến Thanksgiving Day hoặc lâu hơn nữa. Bão Harvey đi qua để lại hậu quả là kahn hiếm xăng, các hầm chứa xăng tại gas stations đã cạn dần. Từ ngày thứ Năm ngày 31, tại Houston có nơi giá xăng tăng lên khoảng 2.49 đô la một gallon và tăng dần lên 4 đô-la/1gallon. Dallas cũng bị ảnh hưởng về nạn khan hiếm xăng, nhiều xe phải chờ đợi hằng giờ để chờ đổ xăng nhưng khi đến nơi thì cạn xăng.

NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG VÀ NGƯỜI GIÚP NGƯỜI
The Good Samaritans – The People Helping People

Qua các ống kính thu hình của các phóng viên NBC, ABC, CBS, Fox News, CNN, tôi nhận ra họ đã can đảm đến tận các thành phố bị bão để trực tiếp truyền hình những nhà cửa sụp đổ, cây lớn ngả nghiêng, các gas stations bị hư hại… Dù mưa gió họ vẫn đứng tường trình tin bão tố và thu những hình ảnh thật. Tôi thấy có những thanh niên, trung niên đã đưa đôi tay bồng bế những người già cả đang dùng xe lăn, gậy hoặc các phụ nữ có con bé nhỏ để mang lên các xuồng chèo tay, xuồng gắn động cơ, các ca-nô, kayak… Có nhiều người đã được trực thăng cứu giúp trong các rổ lưới (baskets). Phía chánh quyền thì xử dụng các phương tiện của đơn vị tuần duyên như thuyền máy, phi cơ trực thăng, các quân xa. Có các binh sĩ dùng các quân xa to để giúp di tản dân.

 

Cảnh sát SWAT Daryl Hudeck bế mẹ con chị Catherine Phạm sau khi cứu gia đình họ từ ngôi nhà bị ngập nước – Photo Credit: David Phillip – AP

 

Có hơn 200 cảnh sát viên tại Houston đã làm việc tận tụy suốt buổi sáng, trưa chiều, ngay cả khi đêm xuống trong những ngày bão. Tại đây, Houston không giống như cơn bão Katrina năm 2005 tại New Orleans; lúc ấy, các cảnh sát viên này đã bỏ nhiệm sở và ở lại nhà của mình, vì nhà cửa của họ bị ngập lụt nhưng tại Houston, không có một cảnh sát viên nào bỏ nhiệm sở, dù thân nhân, gia đình của họ gặp cảnh bão lụt. Sáng Chúa nhật ngày 27-8, vào buổi sáng sớm có một cảnh sát viên với hơn 20 năm phục vụ đã lên đường đến nhiệm sở, ông ta cũng đã báo cáo đến Bộ Tư Lệnh Cảnh sát cho biết trên đường đến nhưng lũ lụt đến quá nhanh, chiếc ô-tô đã bị nước cuốn trôi và ông ta đã bị tử nạn để lại nhiều tiếc thương. Và mọi người đều kính phục về sự hi sinh, hiểu biết trách nhiệm trọng danh dự của một cảnh sát trong cảnh “dầu sôi lửa bỏng”. Houston trong thảm họa của Harvey đã không có cảnh cướp bóc, đập phá tiệm chợ để hôi của như đã xảy ra tại New Orleans 2005 trong Bão Katrina.

Sau nhiều ngày trong cơn bão các cảnh sát viên đều kiệt sức… Cảnh sát trưởng Houston đã phải lên tiếng kêu gọi lực lượng cảnh sát bạn tại các thành phố San Antonio, Dallas đến trợ giúp. Đêm thứ Tư ngày 23-8, có hằng trăm cảnh sát bạn hưởng ứng lời kêu gọi của vị cảnh sát trưởng nói trên và họ đã đến Houston.

Lại có 12,000 National Guardmen, có các quân nhân thuộc binh chủng Marine Corps với các đoàn quân xa đã đến Houston để trợ lực cho công cuộc di tản giúp nạn nhân bão lụt. Có nhiều thiện nguyện viên nam nữ, già trẻ phục vụ tại các shelters. Cũng có các nhân viên FEMA từ Kansas City, các cảnh sát tại New York City và những con chó đánh hơi cũng đến… Có các tình nguyện viên từ Louisiana mang thuyền có gắn động cơ đến giúp người dân tại Port Arthur. Các thanh nữ Tin lành tình nguyện nấu món ăn nóng cung cấp thức ăn tại parking lot của Home Depot trên xa lộ I-10 và đường Fry. Một số chủ nhân nhà hàng Hoa Kỳ cung cấp các thực phẩm để những thiện nguyện viên nấu nướng. Ống kính TV thu hình một phụ nữ cùng cô gái bé bõng đứng cạnh, họ nấu soup nóng để người tị nạn lót lòng…

Đặc biệt, phóng viên của TV Channel CBS đến Gallery Furniture shelter tại thành phố Richmond cách Houston khoảng 20 dặm thu hình các dân di tản đến Gallery Furniture của một tín hữu Tin Lành Hoa Kỳ tên Jim McIngvale. Ông đã vui lòng đón tiếp số người tị nạn bão lụt vào trong cửa tiệm của mình. Họ không phải ngủ trên sàn nhà bèn là trên các giường êm nệm ấm mới toanh có giá bán khoảng 8,999.00 đô-la.

Qua ống kính thu hình của phóng viên TV, chúng tôi còn thấy có rất nhiều tín hữu Mỹ tình nguyện đến Lakewood Church trên xa lộ Southwest FWY khu Summit với nhiệt tâm sắp xếp những tặng vật cứu trợ: áo quần người lớn, trẻ em, sữa, tả, đồ chơi, sách có hình vẽ dành cho trẻ em, chăn gối, đồ hộp…

Tại George Brown Convention là nơi mở cửa đón khoảng 9,000 người tị nạn. Qua ống kính thu hình của Channel NBC, phóng viên đã phỏng vấn một chàng trung niên thì biết được rằng vào năm 2005, anh là dân cư tại New Orleans, anh là nạn nhân của bão Katrina. Anh đã chạy tị nạn đến Houston và được dân Houston đón tiếp. Từ đó, anh chọn Houston làm nơi định cư. Nay anh tình nguyện đến nơi này và cặm cụi ráp những ghế bố quân đội (cot) để cho những người già cả, phụ nữ em bé nằm. Anh nói rằng anh đã ráp hằng trăm cots rồi…

Các đội banh Texans (Football), Rocket (bóng rỗ) Astro Baseball (bóng chày) đều lên tiếng ủng hộ tài chánh cứu trợ nạn nhân bão lụt. Cầu thủ Football trẻ nổi tiếng mang số 99 của đội Texans là J. Watt; lúc đầu anh lên tiếng raising fund 200,000 đô-la nhưng sau đó anh nâng mục tiêu đạt lên con số 10 triệu đô-la. Đến sáng sớm thứ Sáu ngày 1-9-2017, cầu thủ Watt cho biết con số hứa giúp cứu trợ gần được 17 triệu. Watt nói rằng đoàn xe chở nhu yếu phẩm đang từ tiểu bang Wisconsin sẽ mang nuớc uống, thực phẩm, áo quần đến Houston. Các thanh niên trai trẻ hăng hái làm việc thiện nguyện mang những thùng nước uống từ Houston đến Port Arthur (cách 2 giờ lái xe) vì nhà máy cung cấp nước tại đây đã bị tê liệt.

Trường học của Giáo hội Lutheran cũng đã bị lụt. Ngày 31-8, bà hiệu trưởng, các giáo viên, các nữ sinh lớp 12 đến nhà trường để dọn rửa. Nhà của một huấn luyện viên của đội banh Football trung học đạ bị nước lụt vào nhà với mức độ cao, ông lại là bệnh nhân ung thư, tôi thấy có rất nhiều học sinh nam đã đến nhà của ông để giúp dọn dẹp, có các giáo viên khác đến giúp cắt những vách bằng sheet rock đã bị nước lụt thấm, có người dùng cưa để cắt những thanh gỗ bị thấm nước để sửa chữa cho bạn đồng lao. Thật là những hình ảnh đẹp đẽ rất cảm động.

Qua các clips do các phóng viên Hoa Kỳ thu hình, thứ Ba ngày 22-8, tôi thấy Tổng Thống Donald Trump và phu nhân cùng ông Thống đốc và các giới chức đến Corpus Christi thăm viếng nơi bão Harvest đổ bộ đầu tiên. Tiếp theo, thứ Năm ngày 31-8, Phó Tổng Thống Mike Pence và phu nhân cũng đã đến đây, và bà vợ đã cầu nguyện; chính ông xăng tay áo đích thân tham gia làm những việc giúp người bị tai họa… Tôi nhận ra rằng tại những nơi hoang tàn đổ vỡ thì có những đôi tay giơ ra, mọi người đều vui vẻ tình nguyện ra tay cứu giúp những người đang gặp cảnh bất hạnh. Có những đôi tay dìu dắt, bồng bế những ông bà cụ già ở tuổi 90. Có nhiều người trai trẻ cõng trên lưng những người cần cứu giúp. Có chàng trung niên bồng bế phụ nữ chân yếu tay mềm cùng với một em bé đang ẩn mình trong cánh tay hiền mẫu bước đi trên con đường ngập nước lũ lụt … Tất cả những nét mặt, cử chỉ này đã biểu lộ tình thương yêu của những con dân Chúa và như Thánh Kinh viết: “Ban cho có phước hơn là nhận lãnh” !
The Spirit of Texas ! Proud of Texas.

Ngy. Uyên
Sept. 1, 2017
Viết sau những ngày giông bão

Chuyến Đi Thăm Viếng Thư Viện Billy Graham – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

124 views

Đoàn chúng tôi lên đường lúc 9:30 đêm thứ Ba ngày 27 tháng 6 năm 2017 gồm có bốn người trên chiếc mini van Plymouth nhắm hướng xa lộ liên bang I-10 East. Từ Houston, xe chúng tôi băng qua biên giới Texas sau hơn 2.5 giờ và tiến vào lãnh thổ của Tiểu bang Louisania. Đây vốn là một thuộc địa của Pháp quốc. Về sau đến năm 1803, Hoa Kỳ đã mua lại và từ đó Louisania đã trở thành tiểu bang thứ 31 trong số 50 tiểu bang tại Hoa kỳ.
Xe chúng tôi tiếp tục tiến đến biên giới Tiểu bang Missisippi, kế đến là Tiểu bang Alabama. Xe chúng tôi chạy suốt đêm chỉ ngừng lại khi cần lấy thêm xăng. Khi xe đến Biloxi city thuộc Tiểu bang Alabama, xe rẻ vào xa lộ 65 North để tiến vào lãnh thổ Tiểu bang Georgia. Xe băng qua thành phố Montgomery, bấy giờ là 6 giờ sáng. Xe tiếp tục hướng về Thủ đô của Georgia là Atlanta và phải đổi vào xa lộ 85 North thì quá 11 giờ trưa. Chúng tôi vào nhà hàng Ruby Tuesday, nơi đây có các món rau cải tươi, trái cây, cá biển và ăn trưa. Đấy là thứ Tư ngày 28 tháng 6 năm 2017.

Sau khi ăn và lấy thêm xăng thì đã quá 12 giờ trưa. Xe chúng tôi tiến vào lãnh thổ của Tiểu bang South Carolina. Trên xa lộ này, tôi nhìn thấy hai bên đường có các hồ với làn nước trong xanh thật đẹp. Tôi nhận thấy từ vùng đất trên cao này thì hai bên đường có những rặng cây xanh cao thật đẹp. Khi xe chúng tôi tiến vào thành phố Charlotte thì hơn 4 giờ chiều. Thế là chúng tôi hoàn tất chuyến viễn du có chiều dài hơn 1,100 dặm xuyên qua bốn tiểu bang với 22 giờ lái xe, kể cả lúc lấy xăng, nghỉ ngơi ăn uống… Cảm ơn Chúa đã gìn giữ và đưa dẫn chúng tôi đi đến Charlotte, North Carolina là Tiểu bang thứ năm trong hành trình được mọi sự an bình trong cánh tay của Chúa bao phủ.

Thứ Năm Ngày 28 Tháng 6 Năm 2017

Ước nguyện của tôi từ nhiều năm qua là xin Chúa ban cho tôi có cơ hội để đi thăm viếng Thư viện Billy Graham. Sau 42 năm tại Hoa kỳ, nay Chúa đã làm cho ước nguyện của tôi được thành.

Buổi trưa thứ Năm, đoàn chúng tôi lái xe trên xa lộ mang tên Billy Graham Parkway và rẽ vào con đường để đến Billy Graham Library. Đây là một cơ sở rộng lớn 40,000 square foot tọa lạc trong 20 mẩu đất có rừng cây xanh bao quanh được thiết kế với cây cảnh tuyệt đẹp thiên nhiên.

Trước nhất, chúng tôi đến BGEA (Billy Graham Evangelistic Association) Headquarter. Đây là một cơ sở do Mục sư Tiến sĩ Billy Graham thành lập từ năm 1950.
Vì chúng tôi đã có làm cuộc hẹn cho chuyến viếng thăm này trước đây, khi chúng tôi đến và gặp nhân viên trong HQ thì họ vui vẻ niềm nỡ đón chào chúng tôi. Họ hướng dẫn chúng tôi thăm viếng các phòng ốc, cơ sở. Tòa nhà có nhiều tầng với hơn 100 nhân viên làm việc full time. Có văn phòng báo chí (Decision Magazine). Phòng Media Worldwide Picture với các chuyên viên thu hình, quay phim sản xuất rất nhiều phim ảnh. Có phòng rộng lớn chứa các phim đã thực hiện từ hơn nửa thế kỷ trước đây. Có phòng với các nhân viên nhận các thư từ do các độc giả, thính giả muốn tìm hiểu về Phúc âm và họ đáp ứng lời kêu gọi tin nhận Chúa. Những nhân viên này sẽ trả lời thư. Có một phòng ăn rộng lớn dành cho các nhân viên trong HQ , với một dãy cờ của 50 tiểu bang Hoa Kỳ.

 

Phòng ăn

 



    Căn nhà Ông Bà Mục sư Billy Graham

 

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Billy Graham sinh ngày 7-11-1918 tại Charlotte, N. Carolina là trưởng nam trong một gia đình có 2 em gái và một em trai. Bố mẹ ông sống trong một nông trại. Từ thuở ấu thơ, Billy Graham và các em của mình đã được trưởng dưỡng trong giáo lý của Associated Reformed Presbyterian. Bố mẹ của ông vốn từ đất Tô-cách-lan – Ái-nhĩ-lan rời quê hương đến Hoa Kỳ và lập nghiệp.

Billy Graham là một khuôn mặt nổi bật trong số các nhà truyền giảng Phúc âm của thế kỷ 20. Ông được thụ phong mục sư trong giáo hội Báp-tít Nam Phương (SBC). Ông theo học Thánh Kinh Học viện tại Florida và về sau tốt nghiệp cử nhân phân khoa Nhân chủng học (Anthropology) năm 1943 tại viện Đại học Wheaton, Illinois. Tại viện đại học nói trên, Billy Graham đã tin nhận Thánh Kinh là Lời vô ngộ (không sai trật)

Ngày 13-8- 1943, Billy Graham kết hôn cùng cô bạn học Ruth Bell (1943-2007), bà là con của ông bà Giáo sĩ L. Nelson Bell phục vụ tại China. Bố của cô Ruth Bell là một y-sĩ giải phẩu. Sau 64 năm kết hôn, bà Ruth Graham về Nước Chúa năm 2007, hưởng thọ 87 tuổi.
Các Chiến Dịch Billy Graham (Billy Graham Crusades)

Trong suốt sáu thập niên tên tuổi của ông nổi bật trên toàn cầu qua các “Chiến Dịch Billy Graham”. Ông là nhà truyền giảng Phúc âm trong các chiến dịch qui mô vĩ đại tại các vận động trường tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới từ năm 1947 cho đến năm 2005 là năm ông nghỉ hưu vì tuổi cao.

Qua 400 chiến dịch Tin lành vĩ đại nói trên, Billy Graham đã trình bày những sứ điệp chia xẻ Phúc âm cho khoảng 250 triệu người tại Hoa Kỳ với 185 quốc gia trên toàn cầu.
Chiến dịch giảng Phúc âm đầu tiên của Billy Graham đã được tổ chức tại Auditorium Civic Grand Rapids, Michigan từ ngày 13-27, tháng 9 năm 1947 có 6,000 người tham dự. Lúc ấy, Billy Graham chỉ có 28 tuổi. Về sau, qua những chiến dịch vĩ đại hơn, Billy Graham thành lập đại ban hợp xướng với năm nghìn người. Ông theo phương cách của nhà truyền giảng Dwight L. Moody là sau sứ điệp thì có lời kêu gọi thính giả đứng lên và tiến về phía trước tiếp nhận Chúa. Những người này đã được các cố vấn tâm linh hướng dẫn và giải đáp các câu hỏi của đương sự và cùng cầu nguyện. Sau đó, họ được biếu một quyển Phúc âm Giăng hoặc một sách nhỏ giải nghĩa Thánh Kinh khác. Khi sứ điệp Phúc âm kết thúc, thông thường đại ban hợp xướng Thánh ca “Just As I Am” (Tôi Nguyện Đến Liền).

Năm 1992, Chiến Dịch Billy Graham đã được tổ chức tại Mạc-tư-khoa (Moscow) đã có một phần tư của con số 155,000 người tham dự tiến về phía trước tin nhận Chúa.
Tại London, Chiến dịch Billy Graham đã kéo dài liên tục trong nhiều tuần lễ. Tại Madison Square, New York Chiến Dịch Billy Graham đã kéo dài suốt 16 tuần vào năm 1957.
Các cơ quan truyền thông do Billy Graham đặc trách:
Những bài giảng của ông đã được phát sóng trên Radio, TV. Từ năm 1950-1957, tại Hoa Kỳ ông đã đảm trách giờ phát thanh đại chúng trên Radio mang tên “The Hour Decision” (Giờ Quyết Định)
Ông là tác giả của nhiều quyển sách về Cơ-đốc giáo như “How to be born again”, “Angels”.
Hour of Decision, giờ phát thanh đại chúng hằng tuần trên Radio trên toàn quốc Hoa Kỳ và toàn cầu kéo dài suốt 50 năm
Chương trình đặc biệt mục vụ phát thanh trên các thị trường toàn quốc Hoa Kỳ và Canada
Cột báo “Answer” trên các nhật báo Hoa Kỳ được phát hành bởi Tribune Media Services.
Decision được xem là tạp chí chánh thức của hiệp hội Billy Graham ấn hành.
Đặc san Christianity Today khởi đầu năm 1956 do K.F.Henry làm chủ bút đầu tiên.
Passageway.org là webiste cho mục vụ môn đồ hóa dành cho giới trẻ do BGEA điều hành.
World Wide Picture sản xuất và phát hành hơn 130 phim ảnh.
Năm 2013, Hiệp hội Truyển giảng Phúc âm Billy Graham khởi xướng “Hi Vọng với Billy Graham” với mục tiêu cổ xúy nhấn mạnh khích lệ tín hữu chia xẻ Phúc âm trong những nhóm họp mặt sau khi trình chiếu sứ điệp của Billy Graham. Ý tưởng này khích lệ các tín hữu chia xẻ Tin Mừng Chúa Cứu-thế từ Phúc âm Ma-thi-ơ. Video có nhan đề “Thập Tự Giá” là chủ đề chánh yếu trong loạt đề tài “My Hope America” và đã được phát hình trong dịp lễ kỷ niệm Billy Graham được 95 tuổi .

Tưởng cũng nên nói, Billy Graham là một cố vấn linh hướng đặc biệt đối với các Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, George Bush cha và con.

Trong lãnh vực truyền thông Cơ đốc, Billy Graham đã điều hành đặc biệt điều hành các mục vụ ấn hành văn phẩm cơ đốc, theo lời của các nhân viên cho biết rằng đã có 3.2 triệu người đáp ứng lời kêu gọi của Billy Graham qua các chiến dịch Phúc âm và có 2.2 tỉ người đáp ứng lời kêu gọi của ông qua các sứ điệp Phúc âm trên Radio, TV.
Qua các lần thống kê của viện Gallup, tên tuổi của Billy Graham luôn luôn được liệt kê đứng đầu danh sách của những bậc vĩ nhân đáng ngưỡng mộ trên thế giới.

Billy Graham preaching to his largest crowd in Seoul in South Korea

CÁC LÀN SÓNG PHỤC HƯNG TẠI ĐÔNG NAM Á – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

125 views

Hạ tuần tháng 4 năm 2017, tôi đáp chuyến bay Boeing từ phi trường IAH đến Taipei, Taiwan và sau đó đổi phi cơ khác bay đến phi trường Thủ đô Jakarta, Indonesia… Tại đây, tôi gặp thêm một số mục sư khác từ Hoa Kỳ, Canada, và Việt nam. Sau đó, phái đoàn chúng tôi lên xe Bus hướng về phía nam của Thủ đô Jakarta để đến trung tâm của giáo hội.

Nam Dương cùng một múi giờ với Việt Nam, trong vùng khí hậu nhiệt đới, ở phía dưới của Malaysia và Singapore một tí. Hệ thống xa lộ tại Jakarta có những lanes hẹp hơn tại Hoa Kỳ. Lúc ấy, nhằm giờ dân chúng đi làm về nên đường giao thông bị kẹt và chậm lại. Quảng đường khoảng hơn 60km nhưng phải mất gần bốn tiếng đồng hồ, bus mang chúng tôi đến nơi.

Trước khi lên đường sang Nam Dương, chúng tôi được biết trong những ngày từ 25-4 đến ngày 4-5, 2017, Ban Tổ Chức sẽ trình bày các chủ đề sau đây: Lịch sử Giáo hội Tin Lành tại Nam Dương, Hội thánh tăng trưởng trong những năm vừa qua tại Nam Dương, Huấn luyện người lãnh đạo… Những người tham dự sẽ được giáo hội đài thọ về ăn uống tại khách sạn Harris ba sao. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến đây thì có sự đổi thay, nơi chúng tôi nghỉ ngơi là một trung tâm huấn luyện cán sự của giáo hội tại một vùng hẻo lánh. Tòa nhà chánh có hai tầng: tầng trên dành cho lớp huấn luyện nhân sự và phòng ngủ. Tầng dưới là nhà bếp và phòng ăn tập thể. Bên cạnh là các căn phòng dành cho các cán sự ngủ nghỉ. Trung tâm có một khu vườn, họ trồng các loại rau, bầu bí, ngô, chuối, đu đủ, thanh long. Xa xa, tôi thấy có cây chôm chôm…

Ban tổ chức sắp xếp 5 mục sư vào một phòng, có toilet và phòng tắm. Phái nữ cũng thế. Những đôi vợ chồng được tách riêng ra. Tuy nhiên, qua ngày thứ nhì, các đôi vợ chồng được chuyển đến hotel, đến buổi ăn thì có bus chở những vợ chồng này trở lại trung tâm, vì các vị độc thân thì vẫn ở lại trung tâm nói trên. Các nhân viên phục vụ tại nhà bếp là người Nam Dương gốc Trung Hoa. Vì thế, nhà bếp nấu các món ăn cũng tương tợ như món Việt và Trung Hoa. Đôi lần tôi thấy họ cũng nấu vài món ăn của người địa phương Nam Dương.

Ngày 1
Buổi sáng và chiều, chúng tôi đến phòng thuyết trình, Mục sư Abraham, người Nam Dương gốc Trung Hoa, thuyết trình về sự phát triển của Cơ-đốc giáo tại Nam Dương và đề cập đến các làn sóng phục hưng trong thời gian qua. Sau khi ăn chiều xong, khoảng 7:30pm, chúng tôi lên xe bus để đến một tòa nhà của giáo hội dự buổi cầu nguyện kéo dài trên 2 tiếng đồng hồ. Có ban nhạc và ca sĩ hát dẫn những ca khúc ngắn hát và lập lại nhiều lần. Có những tín hữu người Nam Dương địa phương đến cầu nguyện, phòng có thể chứa khoảng vài trăm người. Các tín hữu hát và quì gối cầu nguyện, họ đưa hai cánh tay lên, có người sấp mình trên thảm và cầu nguyện lớn tiếng khóc lóc.

Ngày 2
Phái đoàn chúng tôi lên bus đi đến một thành phố cách trung tâm khoảng 10 cây số để đến Music Center Training. Đấy là nơi giáo hội đào tạo các nhân sự đặc biệt về lãnh vực âm nhạc thờ phượng: cách chọn những bài hát và ban hát dẫn đi vào sự ngợi khen. Chúng tôi ở đây suốt buổi sáng và chiều. Đặc biệt có một thanh nữ người Nam dương khoảng 21 tuổi đã theo học về thanh nhạc ba năm có mặt để hướng dẫn cách thở, lấy hơi và hát.

Ngày 3
Phái đoàn chúng tôi đến tham dự buổi nhóm đặc biệt sáng thứ Bảy 29-4-2017. Có khoảng 10,000 tín hữu khắp nơi đến dự nhóm tại nơi đây mỗi tháng một lần. Nơi nhóm thờ phượng Chúa tại địa điểm Sintul International Convention, Bogor Kabupaten City, West Java. Đây là một cơ sở rộng 22,000 m2 với 6.4 mẩu đất với sức chứa 11,000 người nơi phòng chánh, và 2,000 người tại các phòng kế cạnh.

Tưởng cũng nên nói thêm, các trung tâm của giáo hội nói trên theo sinh hoạt thờ phượng Charismatic. Giờ nhóm bắt đầu với những ca khúc ngắn hát và lập đi lập lại nhiều lần. Ban nhạc với keyboard, các guitars, dàn trống và các ca sĩ hát dẫn. Tiết mục Praise Team rất lâu kéo dài khoảng 60 phút. Tín hữu hát thuộc lòng, nhưng phía trước có màn ảnh chiếu lên các hàng chữ của bài hát ấy… Các tín hữu ở dưới hát và đôi tay giơ cao. Tôi quan sát những tín hữu này không uốn éo, nhảy tưng tưng hay lắc lư thân mình, dù đôi lúc có những bài hát với âm điệu mạnh mẽ, khích động. Trong chương trình thờ phượng sáng nay có tiết mục gồm có các phụ nữ mặc quốc phục Nam Dương vừa hát vừa dance theo âm điệu của bài hát trổi lên.

Khi Mục sư Niko giảng khoảng 15 phút sau, ông cất lên tiếng hát một bài hát khác, tín hữu cùng hát theo rồi sau đó ông giảng tiếp. Buổi nhóm thờ phượng kéo dài trên ba tiếng. Trước khi giảng, ban tổ chức cho rọi lên màn ảnh những thông báo, video về các chiến dịch giảng Phúc âm tại các thành phố lớn tại Nam Dương…

Ngày 4
Chúa nhật ngày 30-4-2017, chúng tôi đến dự nhóm tại hai địa điểm khác nhau vào buổi sáng và chiều. Tại Nam Dương, số người Islam đông nhất, dù nơi đây không có nhiều người Hồi giáo cực đoan; tuy nhiên, tại một số thành phố vẫn có những nhóm nhỏ Islam quá khích, họ vẫn ra mặt chống đối Cơ đốc giáo. Việc xây nhà thờ mới không được cấp giấy phép. Vì thế, các nhà lãnh đạo giáo hội đã phải nghĩ đến phương cách thuê các phòng rộng lớn tại Shopping Mall. Dĩ nhiên, tiền thuê rất đắt đỏ. Buổi sáng Chúa nhật, chúng tôi đến Nhà thờ Kabaktian GBI trong khu Shopping Mall tại Gandara City Hall. Nơi đây có 5 buổi nhóm thờ phượng Chúa, lễ thứ nhất lúc 8 giờ sáng, lễ thờ phượng cuối vào lúc 6:30 chiều tại tầng cao nhất với sức chứa 5,000 người. Buổi chiều, chúng tôi đến Shopping Mall Botani Square. Nơi đây có phòng nhóm chứa khoảng 2,000 người.

Ngày 5
Chúng tôi lên xe bus đến một thành phố khá xa để thăm viếng một trung tâm thờ phượng khác. Các tín hữu đã xây một cơ sở mới rất đẹp, đồ sộ. Đây là một trung tâm thờ phượng khác, đa số tín hữu là người Nam dương gốc Trung Hoa. Khi bus chạy qua khu vực của thị trấn, tôi nhìn thấy các hiệu buôn của người Trung Hoa rất nhiều.

Khi nghiên cứu về những làn sóng phục hưng của Cơ-đốc giáo tại vùng Đông Nam Á trong thế kỷ 20, chúng ta có một cái nhìn đại cương sau đây:

Tại Trung Hoa
Từ thời thượng cổ, Phúc âm đã sớm đến lục địa Trung Hoa do các nhà truyền giáo Tây phương. Sau Phong trào Cải chánh Giáo hội vào thế kỷ 16, qua những nổ lực của các Hội Truyền giáo Tin Lành Tây phương trong thế kỷ 18; sau khi họ đặt chân đến lục địa rộng lớn Trung hoa thì các hội thánh người Trung hoa được thành lập và phát triển (1807-1903). Thế rồi có những giai đoạn phấn hưng xảy đến giữa vòng các Hội thánh Trung hoa (1910 – 1927 – 1937).

Năm 1966-76 tại Trung Hoa, cuộc cách mạng văn hóa nổ bùng thì Cơ-đốc giáo bị ngăn cấm triệt để: Thánh Kinh bị tịch thu và đốt, nhà thờ bị đập phá và đóng cửa, hằng nghìn tín hữu, mục sư, giảng sư Tin lành bị tống vào ngục tối (1983-1993). Sau khi Mao Trạch Đông chết vào năm 1976 thì phong trào Cách mạng Văn hóa (Cultural Revolution) nói trên tàn rụi. Tại Trung Hoa, năm 1980-86 đã được xem là giai đoạn “open door”.
Dân Trung Hoa sống dưới chế độ Cộng sản, không có tự do tôn giáo, tín hữu Tin lành đối diện với sự bách hại, tù đày, ngăn cấm, bị đe dọa từ chánh quyền, nhưng số tín hữu Trung Hoa vẫn nhóm họp tại tư gia (house churches). Giờ đây, mỗi ngày có 30,000 người Trung Hoa tin nhận Chúa. Hiện nay, số tín hữu Tin Lành và Roman Catholic tại Trung Hoa có khoảng 150 triệu với tỉ lệ 0.9% trong tổng số dân Trung Hoa có 1.5 tỉ người.

Tại Đại Hàn
Hội thánh Đại Hàn được thành lập vào năm 1885, có một tân tín hữu tiếp nhận thánh lễ Báp-têm, đến cuối năm 1887 thì có bảy tân tín hữu.

Mười tám năm trước đó, tháng 9 1886 , Giáo sĩ Robert J. Thomas đã đến Đại Hàn chia xẻ Phúc âm của Chúa Cứu-Thế, ông là vị truyền giáo Presbyterian đầu tiên đã tử đạo: ông đã bị đâm, bị đánh đập, cuối cùng thì ông đã bị chém đầu tại Bình Nhưỡng.
Lịch sử giáo hội cho biết, cuộc phục hưng lần thứ nhất bùng cháy vào năm 1903 và được gọi là Wonsan Revival Movement.

Cuộc phục hưng thứ nhì (1907-1910) đã xảy ra tại Bình Nhưỡng (Pyongyang, North Korea) vào ngày 14-1-1907.

Làn sóng phục hưng lần thứ ba tại Nam Hàn (1950 -1955)
Chúa Thánh Linh đã hành động và trong sáu tuần lễ đã có 25,000 người tin nhận Chúa, hằng ngày có 5,000 tín hữu thức dậy sớm dự các buổi cầu nguyện; hằng trăm người tiếp tục cầu nguyện suốt buổi trưa chiều và đêm. Có khoảng 75,000 người Nam Hàn đến dự các buổi truyền giảng Phúc âm.

Các Chiến dịch Truyền giảng Tin lành và Phục hưng (1960-70)
Các hội thánh Chúa phát triển, nhiều tín hữu gia tăng. Năm 1965, các nhà lãnh đạo cầu nguyện và thành lập chiến dịch truyền giảng Phúc âm với banner “Thirty millon to Christ” và “Expo 74”.

Trước khi Tiến sĩ Billy Graham sẽ đến với “Chiến Dịch Billy Graham” qui mô vĩ đại vào năm 1973 thì từ một năm trước, 1972, có 1.2 triệu tín hữu khắp nơi từ Nam Hàn cùng tập họp và đi ra khắp mọi nơi chốn chia xẻ Phúc âm và kết quả có 16,700 người tin nhận Chúa.
Người ta nghe và biết những làn sóng phấn hưng đã xảy đến giữa vòng các Hội thánh Đại hàn chẳng hạn như “Núi Cầu Nguyện” tại Nam Hàn. Số tín hữu Tin Lành tại Nam Hàn hiện nay có tỉ lệ khoảng 0.30% trong tổng số dân 45 triệu người. Năm 1995, người ta ghi nhận đây là năm cao điểm của làn sóng phấn hưng tại Nam Hàn.

Tại Nam Dương Quần Đảo
Có nhiều đợt phấn hưng giữa vòng các Hội thánh Nam Dương trong thế kỷ 20. Nam Dương nguyên là một thuộc địa của Hòa Lan kéo dài khoảng 350 năm. Đặc biệt, người Nam Dương dùng loại chữ Alphabet để viết, giống như người Việt chúng ta; tuy nhiên, có nhiều chữ rất dài, có nhiều mẩu tự như họ tên.

Sau thế chiến II, năm 1945, Nam Dương dành được quyền tự trị và độc lập. Từ thế kỷ 16, có nhiều Hội Truyền giáo Evangelical Hòa-lan cùng với Giáo hội Lutheran Đức quốc, Roman Catholic đến Nam Dương. Nam Dương Quần đảo có diện tích 1,904,569 km2 với 263.51 triệu dân sống trên mười bảy nghìn đảo lớn nhỏ. Tưởng cũng nên nói, Nam Dương có số lượng người Hồi giáo (Islam) đông nhất trên thế giới với 215 triệu người; riêng tại Nam Dương thì Islam chiếm tỉ lệ 87.2% trong tổng số dân.
Làn sóng phấn hưng đã xảy ra tại Nam Dương vào những năm 1995-2015. Ngày nay, số tín hữu Tin Lành có 30% trong tổng số dân tại Nam dương. Theo Charisma News cho biết rằng Hồi giáo tại Nam Dương có bản tường trình như sau: Hiện nay cứ mỗi 15 giây họ mất đi một người Islam, tức là 2 triệu người Islam trong 365 ngày. Cho đến năm 2035, Nam Dương sẽ không còn là quốc gia có người Islam đông đão nhất nữa.
Tại Thủ đô Jakarta, ngày 19 tháng 11 năm 2014, có một tạn thống đốc là Cơ-đốc nhân, ông Basuki Tjahaja Purnama, người Nam dương gốc Trung Hoa. Đấy là vị thống đốc Tin lành đầu tiên từ 50 năm qua khi cựu Thống đốc Joko Widodo đắc cử Tổng thống Nam Dương vào năm 2014 thì ông Purnamađã được chánh phủ bổ nhiệm giữ chức vụ quan trọng về chính trị là Thống đốc của Jakarta. Với 240 triệu dân và có 90% là người Islam, Tân tổng thống, một Islam, đã tuyên bố rằng Islam không phải là quốc giáo.
Nếu nói đến làn sóng phục hưng tại Nam Dương hiện đại mà không nhắc đến làn sóng phấn hưng trong thập niên ba mươi là một thiếu sót. Một khuôn mặt của sứ giả phục hưng tên tuổi lẫy lừng người Trung Hoa. Đấy là Tiến sĩ Tống Thượng Tiết (Dr. John Sung). Năm 1936, ông đã đến vùng đất Sarawak, Malaysia để giảng cho người Trung Hoa, đồng thời ông cũng đã đến Đảo Borneo, Nam Dương giảng cho số lượng đông đảo người Trung Hoa lập nghiệp tại đây. Trong một chiến dịch giảng phục hưng kéo dài mười ngày đã có 1,600 tín hữu người Trung Hoa hứa nguyện sống cho Chúa và có hằng trăm người với nhiệt tâm hứa dâng đời sống mình đi phụng vụ Chúa.

Năm 1939, Tiến sĩ Tống trở lại Thủ đô Jakarta, Nam Dương lần thứ nhì. Tại thành phố Surawaja, ông cho biết rằng mình sẽ rao giảng 21 sứ điệp trong suốt bảy ngày, như thế mỗi ngày ông có ba lần rao giảng sứ điệp và ông kêu gọi các tín hữu đến tham dự nếu họ muốn khám phá sứ điệp của Thiên Chúa phán. Khi cuộc phấn hưng xảy ra, có nhiều chủ nhân của các cửa hiệu buôn đóng cửa để đến nghe Tiến sĩ Tống giảng. Các trường học đóng cửa để các trẻ em và các giáo viên đến dự chiến dịch. Những buổi nhóm họp như thế kéo dài từ năm đến sáu tiếng đồng hồ mỗi ngày. Tiến sĩ Tống đã giảng lời Chúa và cầu nguyện chữa bệnh. Mỗi ngày có khoảng năm nghìn người Nam Dương đến nghe Tiến sĩ Tống giảng. Họ đến đấy lúc 8 giờ sáng và ở lại đến 11 một giờ khuya. Trọn một tuần lễ, có khoảng chín trăm người đã hứa dâng đời sống mình cho Chúa. Vì phải đứng quá lâu trong ngày, Tiến sĩ Tống cũng đã phải chiến đấu với sự đau nhức bên hông, làm cho ông rất khó khăn khi đứng trên đôi chân. Sau cùng, khi giảng ông phải quì xuống trên đầu gối của mình. Ông kể lại rằng “sự đau nhức ấy lìa khỏi khi ông giảng Lời Chúa, và khi nào ông chấm dứt buổi giảng thì cơn đau nhức trở lại.”

Năm muơi năm trước đây, năm 1965, làn sóng phục hưng đã xảy ra tại thành phố Soe, Đông Timor, Nam Dương. Đặc biệt, khi Chúa Thánh Linh thăm viếng thì có sự phục hưng trong đời tâm linh kèm theo phép lạ xảy đến như chữa lành bệnh… Nhiều toán tín hữu nhiệt thành ra đi chia xẻ Phúc âm đến tận các thôn làng xa xôi. Khi dân chúng là những người theo Hồi giáo, Ấn độ giáo và Phật giáo chứng kiến những phép lạ vĩ đại xảy ra thì họ đã đến với Chúa Cứu-Thế Jêsus Christ. Ánh sáng của Phúc âm bừng sáng giữa cõi tăm tối và khi dân chúng chứng kiến dấu lạ xảy ra: người chết sống lại từ kẻ chết, nước biến hóa thành rượu nho…

Image

Jesus Thanh Tẩy Ðền Thờ – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

Jesus Thanh Tẩy Ðền Thờ

Kinh Văn: Ma-thi-ơ 21: 12-17

(Xem Mác 11:15-19 Lu 19:45-48; Gi 2:13-22)

Đền thờ Jerusalem thời Vua Salomon

12. Đức Giê-su vào trong đền thờ và đuổi hết những kẻ mua bán ra ngoài. Ngài đổ bàn của những người đổi tiền và lật ghế của mấy kẻ bán bồ câu.
13. Ngài phán cùng họ: “Kinh Thánh chép: ‘Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các người biến thành sào huyệt trộm cướp’.”
14. Có những người mù và què đến với Ngài trong đền thờ và Ngài chữa lành cho họ.
15. Nhưng các thượng tế và chuyên gia kinh luật thấy các việc diệu kỳ Ngài làm cũng như nghe những lời trẻ em reo lên trong đền thờ: “Hô-sa-na Con vua Đa-vít”,
16. thì tức giận hỏi Ngài: “Ông có nghe chúng nó nói gì không?” Đức Giê-su trả lời: “Có, thế các ông chưa đọc lời Kinh Thánh: ‘Chúa đã được miệng trẻ thơ và em bé còn bú ca ngợi sao?’ ”
17. Rồi Ngài lìa họ, ra khỏi thành phố đến làng Bê-tha-ni và nghỉ đêm ở đó.

Đền thờ Jerusalem thời Vua Hê-rốt

Buổi sáng Chúa nhật lễ Lá, Jesus đã vào thủ đô Jerusalem như một vị vua chiến thắng, chung quanh dân chúng tung hô Ngài “Hô-sa-na.” Khi đêm xuống, Jesus vào thành Bê-tha-ni (Mác 11:11) để nghỉ ngơi. Ðến ngày sau, Chúa cùng các môn đệ trở lại đền thờ Jerusalem. Bối cảnh của câu chuyện này là nhằm vào dịp đại lễ Vượt qua. Xem Xuất Ai-cập ký 13:

1. CHÚA phán dạy Môi-se:
2. “Dân Y-sơ-ra-ên phải hiến dâng cho Ta tất cả các con trưởng nam. Con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Ta, kể cả con trưởng nam của loài người và con đầu lòng của súc vật.”
3. Sau đó Môi-se nói với dân chúng: “Hãy kỷ niệm ngày này là ngày anh chị em ra khỏi Ai-cập, ra khỏi đất nô lệ vì CHÚA đã đem anh chị em ra bằng cánh tay quyền năng của Ngài. Đừng ăn món chi có men.
4. Anh chị em ra đi hôm nay, vào tháng giêng.
5. Khi CHÚA đã đem anh chị em vào xứ của người Ca-na- an, Hê-tít, A-mô-rít, và Giê-bu-sít, xứ Ngài đã hứa ban cho tổ phụ anh chị em, là xứ tràn trề sữa và mật ong, thì anh chị em phải giữ lễ này vào tháng này.
6. Trong bảy ngày phải ăn bánh không men và đến ngày thứ bảy phải tổ chức lễ thờ phượng CHÚA.
7. Trong suốt bảy ngày này phải ăn bánh không men, giữa vòng anh chị em sẽ không có món gì có men, và không được thấy men trong toàn lãnh thổ.
8. Vào ngày đó, anh chị em nói cho con cái: ‘Cha làm như vậy vì điều CHÚA đã làm cho cha, khi Ngài đem cha ra khỏi xứ Ai-cập.’
9. Việc giữ lễ này đối với anh chị em sẽ như một dấu trên tay, một kỷ niệm trên trán, để nhắc nhở luật pháp của CHÚA nơi môi của anh chị em, vì CHÚA đã dùng cánh tay quyền năng đem anh chị em ra khỏi Ai-cập.
10. Anh chị em phải giữ mạng lệnh này, vào đúng thời điểm ấn định, từ năm này qua năm khác.“

Dân số ký 9:

1. CHÚA phán bảo Môi-se trong sa mạc Si-nai vào tháng giêng năm thứ nhì sau khi rời khỏi Ai-cập:
2. “Con phải cho dân Y-sơ-ra-ên cử hành lễ Vượt Qua vào thời gian ấn định.
3. Con hãy giữ lể ấy đúng thời gian ấn định, vào lúc chạng vạng tối ngày mười bốn tháng này đúng theo mọi qui luật và sắc lệnh.”
4. Vậy Môi-se bảo dân Y-sơ-ra-ên cử hành lễ Vượt Qua:
5. họ giữ lễ ấy trong sa mạc lúc chạng vạng ngày mười bốn tháng giêng đúng theo mọi điều Chúa đã truyền lệnh cho Môi-se
6. nhưng hôm ấy, có mấy người bị ô uế vì đến gần xác chết nên không giữ lễ Vượt Qua được. Vậy họ đến cùng Môi-se và A-rôn ngay hôm ấy
7. và thưa với Môi-se: “Chúng tôi bị ô uế vì xác chết của loài người. Vì sao giữa dân Y-sơ-raên chúng tôi phải mất phần dâng tế lễ cho CHÚA theo thời gian ấn định?”
8. Môi-se đáp: “Anh em hãy đợi tôi đến tìm biết điều CHÚA truyền dạy về anh em.”
9. CHÚA phán dạy Môi-se:

10. “Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên: Khi một người trong vòng các ngươi hoặc trong dòng dõi các ngươi bị ô uế vì xác chết hoặc bận đi xa, thì cũng buộc phải giữ lễ cho CHÚA.
11. Những người ấy phải giữ lễ này ngày mười bốn tháng hai lúc chạng vạng, ăn bánh không men với rau đắng.
12. Đừng để vật gì còn lại đến sáng mai, cũng không nên bẻ gãy các xương. Phải giữ đúng mọi luật lệ về lễ Vượt Qua.
13. Nhưng những ai tinh sạch và không đi xa mà chẳng giữ lễ Vượt Qua thì sẽ bị khai trừ ra khỏi nhân dân, vì chẳng dâng tế lễ cho CHÚA trong kỳ ấn định; người ấy sẽ mang tội mình.
14. Khi một người nước ngoài kiều ngụ giữa các ngươi muốn cử hành lễ Vượt Qua, thì phải giữ đúng các qui luật và sắc lệnh. Các ngươi phải áp dụng qui luật cho người nước ngoài cũng như cho người bản xứ.”

Phục. 16:

Lễ Vượt Qua
“1. Anh chị em phải giữ Lễ Vượt Qua của CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em vào tháng A-bíp vì trong tháng A-bíp Chúa đã đem anh chị em ra khỏi xứ Ai-cập lúc ban đêm.
2. Phải bắt con vật trong bầy bò hay bầy chiên để dâng lên CHÚA, làm tế lễ Vượt Qua, tại địa điểm CHÚA sẽ chọn để đặt Danh Ngài.
3. Đừng ăn tế lễ đó với bánh có men, nhưng trong bảy ngày anh chị em phải ăn bánh không men, là bánh khổ nạn để trọn cuộc sống anh chị em có thể nhớ lại lúc mình rời bỏ Ai-cập, vì anh chị em đã rời xứ đó cách vội vàng.
4. Trong bảy ngày đó khắp cả nước không ai được phép giữ men, và thịt sinh tế dâng hiến vào buổi tối ngày thứ nhất không được còn thừa đến sáng hôm sau.
5. Anh chị em không được phép dâng tế lễ Vượt Qua tại bất cứ nơi nào trong xứ CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em sẽ ban cho, nhưng phải dâng tại địa điểm Ngài sẽ chọn để đặt Danh Ngài.
6. Tại chỗ đó, anh chị em sẽ dâng tế lễ Vượt Qua vào buổi chiều, lúc mặt trời lặn vào thì giờ kỷ niệm cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập.
7. Phải nấu thịt sinh tế và ăn tại địa điểm CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em sẽ chọn và đến sáng hôm sau anh chị em sẽ về trại mình.
8. Trong sáu ngày kế tiếp, anh chị em sẽ ăn bánh không men đến ngày thứ bảy sẽ tụ họp lại thờ phượng CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em, không ai được làm việc gì cả.”

Những năm trưóc, thánh vụ của Jesus hoạt động ở các vùng xa thủ đô, nhưng giờ đây, chức vụ của Jesus được công bố cách công khai tại trung tâm quyền lực và giáo quyền tại thủ đô. Ðền thờ Jerusalem là trung tâm của mọi sinh hoạt thờ phượng Thiên Chúa của dân Do-thái. Bấy giờ là thời gian gần đến đại lễ Vượt qua, dân Do-thái từ bốn phương, kể cả những người xa xứ sống tại các quốc gia Cận đông kinh doanh buôn bán, nay họ lần lượt trở về quê hương để dự lễ Vưọt qua . Xem Xuất Ai-cập ký 13: 1-10 – Phục. 16: 1-8. Tất cả mọi ngưòi nam đều phải vâng giữ luật lệ này, trừ phi người ấy là kẻ tật nguyền, lâm bệnh nặng.

Theo Cựu Kinh, ngưòi Do-thái phải mang sinh tế đến cùng vị tư tế con bò, dê, chiên đực, bồ câu không tật nguyền, mập mạnh. Cả bốn trưóc giả Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng đều trưóc thuật câu chuyện Chúa thanh tẩy đền thờ thật sinh động. Qua câu chuyện này, chúng ta sẽ thật sự sai lầm khi luôn hình dung Jesus là Ðấng Chăn chiên hiền từ như Phúc âm Giăng 10 mô tả hay nghĩ rằng Chúa yếu đuối lắm. Trong câu chuyện này, các trưóc giả đã ghi lại Jesus đã xuất hiện tại đền thờ Jerusalem thật uy dũng như một vị anh hùng, Ngài xông xáo, nổi giận, Ngài đánh đổ các bàn ghế, Ngài đã làm công việc thanh tẩy đền thờ. Tại sao? Jesus vô cùng đau đớn khi nhìn thấy quang cảnh buôn bán, ồn ào, tranh dành, làm tiền bất chính của giới con buôn cấu kết với hàng lãnh đạo Do-thái giáo để trục lợi trên đám dân đông Do-thái.

Có ngưòi khi đọc đến câu chuyện này thì trách móc rằng tại sao Chúa không có tình thương, tại sao Chúa đánh đổ nhóm ngưòi trao đổi tiền bạc này tại đền thờ? Muốn hiểu rõ nguyên nhân nào Chúa đã ra tay mạnh bạo như thế, chúng ta cần nghiên cứu vấn đề cho rõ rõ hơn. Vậy việc này đã xảy ra tại nơi nào? –

C. 12: Tại đền thờ Jerusalem. Theo kiểu mẩu của đền thờ Jerusalem thì có ba phần chính: nơi Chí thánh: chỉ có vị tư tế cấp thượng phẩm được đặt chân đến nơi này mỗi năm một lần; nơi thánh: các vị tư tế và ngưòi Do-thái đã nhận lễ cắt bì thì được phép đến nơi này; hành lang: những ngưòi ngoại bang không chịu lễ cắt bì thì được đặt chân đến phần này.

Tại sao Chúa thanh tẩy đền thờ?

Hai mươi ngày trước đại lễ Vượt qua, bên ngoài hành lang của đền thờ, ngưòi ta thấy các lều vải được giăng lên, ngưòi ngưòi qua lại thật nhộn nhịp. Những thương buôn mang các bò, chiên, dê đực, bồ câu đến để bán, các ngưòi Do-thái hành hương sống tại Ba-by-lôn, Alexandria, Hi-lạp, Rô-ma… trở về thủ đô Jerusalem .

Khi Jesus vào đền thờ, Ngài trông thấy nghe được âm thanh ồn ào, cải vả nhau, quang cảnh thật náo nhiệt với những người dân và nhóm ngưòi thương buôn bán thú, tại các bàn thì có các anh chàng giàu có hành nghề đổi bạc. Bởi vì có nhiều ngưòi Do-thái sống tại ngoại quốc và vùng Cận Ðông trở về thủ đô Jerusalem để hành hương, họ mang theo tiền bạc của quốc gia ấy. Thoạt đầu, công việc đổi bạc này giúp cho người Do-thái sống tại ngoại quốc nhằm vào dịp lễ Vượt qua. Tuy nhiên, về sau thì tình trạng trở nên tồi tệ hơn. Nhận thấy việc đổi bạc này tạo nên mối lợi kếch xù, nhóm người đổi bạc phải cấu kết với hàng giáo phẩm Do-thái giáo để hiệp thương trục lợi. Họ bèn cho đổi tiền với giá cắt cổ chợ đen. Nhóm thương buôn buộc phải mua chỗ ngồi tại hành lang mà hành nghề, số lợi nhuận sau khi thu vào, họ âm thầm mang đến chia cho các vị tư tế cao cấp An-ne và Cai-phe. Vậy ra cách làm ăn này của các thương buôn đã được các giới chức tôn giáo cấp cao bao che. Dù cho lối làm ăn này có liên quan đến lễ Vượt qua, nhưng bản chất của nó không phải là sự thờ phượng mà là tham lam tiền bạc. Ðó là lý do, Jesus đã nổi giận và thịnh nộ. Nhìn thấy cảnh trạng ấy, Chúa đau xót vì nhóm lãnh đạo Do-thái giáo đã biến đền thờ Chúa thành ra chỗ “hang ổ trộm cướp” mà Chúa trích dẫn từ Giê-rê-mi 7:
9. Các ngươi trộm cắp, giết người, gian dâm, thề dối, cúng tế thần Ba-anh, đi theo các thần khác mà các ngươi chưa hề biết,
10. rồi các ngươi đến đứng trước mặt Ta, tại trong đền thờ này, là nơi mang danh Ta, và nói: ‘Chúng ta an toàn rồi!’ an toàn để tiếp tục làm những việc gớm ghiếc kia!
11. Các ngươi xem đền thờ này, là nơi mang danh Ta, như sào huyệt bọn cướp sao? Này, chính Ta đây, Ta đã nhìn thấy hết mọi sự.” Đấy là lời CHÚA.“
Ðền thờ Jerusalem, trong ý nghĩa hữu hình, đó là nơi dân Do-thái thờ phượng Thiên Chúa. Tại đó họ dâng lên lời cầu nguyện, hát xướng tôn vinh Chúa – Ê-sai 56: 7.

Ðền thờ Jerusalem là biểu tượng tôn giáo của quốc gia Do-thái, nơi muôn dân nhìn vào để biết Thiên Chúa ngự trị. Giờ đây, nơi thiêng liêng ấy trở nên một tập họp cho các vụ kinh doanh, buôn bán. Các vị tư tế đáng ra phải là người chuyên tâm trong sự thờ phượng Chúa, giảng dạy Lời Chúa cho ngưòi dân, nay họ đã đánh mất nhiệm vụ thiêng liêng để dính líu vào tiền bạc. Jesus gọi đền thờ Jerusalem là “nhà Cha ta” chứng tỏ Ngài là Con của Thiên Chúa, Ngài cũng là Chủ và có thẩm quyền để can thiệp vào việc nhà Cha.

Tại sao Chúa thanh tẩy đền thờ?

Chúa Ngôi Hai đã nhập thế để thi hành thánh vụ: dạy dỗ về Nước Trời đồng thời Ngài cũng muốn cải tổ một hệ thống tôn giáo đang suy đồi, bại hoại hư hõng. Tiến sĩ H.M. Luckcock viết lại “Vào thời Hoàng đế Edward VI, Anh quốc, giáo đường St. Paul đã trở thành một nơi tập họp để trao đổi thương vụ stocks.”

H.R. Haweis đã viết về lịch sử Giáo hội Anh quốc suy đồi thuộc linh: “Các hàng giáo phẩm cao cấp ăn không ngồi rồi, thay vì đứng lên chuyên tâm rao giảng lời Chân lý, thì trong ngày Chúa nhật họ chỉ ban lễ. Họ thu tiền sở phí hành lễ cho tín hữu 80 bảng Anh khi có một service nào về thuộc linh. Nhà của Chúa thành ra nơi hang ổ trộm cướp.” Chúa đã thanh tẩy giáo hội Anh quốc giáo qua các phong trào phục hưng trong thế kỷ 19 với hai anh em nhà Wesley, và kế tiếp với Whitefield. Ngày nay, Chúa thật sự buồn lòng khi nhìn thấy bên trong giáo hội có những cảnh buôn bán, làm tiền như tổ chức xổ số, chơi Bingo games, các trò “bầu cua cá cọp” có tính cách cờ bạc để thu hút ngưòi đến chơi và hàng giáo phẩm thu tiền…

Trong ý nghĩa thuộc linh, mỗi con dân Chúa là “đền thờ” nơi Chúa Thánh Linh ngự trị .
I Cô-rinh-tô 3: 16. “Anh chị em không biết rằng anh chị em chính là đền thờ của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh chị em sao?
17. Nếu ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại kẻ đó. Vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh khiết và đền thờ đó chính là anh chị em.”

Chương 6: 19. “ Anh chị em không biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ở trong anh chị em, là Đấng anh chị em đã nhận từ Đức Chúa Trời sao? Anh chị em cũng không còn thuộc về chính mình nữa.
20. Vì anh chị em đã được mua bằng một giá rất cao. Vậy hãy lấy thân thể mình mà tôn vinh Đức Chúa Trời.” ,6
Ê-phê-sô 2
20. “ Anh chị em được xây dựng trên nền tảng các sứ đồ và các tiên tri, còn chính Chúa Cứu Thế Giê-su là Đá góc nhà.
21. Trong Ngài, cả tòa nhà được xây dựng chặt chẽ và phát triển thành đền thánh trong Chúa.
22. Cũng trong Ngài, anh chị em được xây dựng nối kết với nhau thành ngôi nhà của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.”
Nếu một giáo dân chỉ có một hình thức tôn giáo ruờm rà bên ngoài, nhưng bên trong đời sống thuộc linh trống rỗng, Chúa chán ngấy các hình thức ấy. Ê-sai 1:
11. “ CHÚA phán: “Muôn vàn tế lễ của các ngươi Có nghĩa gì đối với Ta? Ta đã chán ngán các tế lễ thiêu Chiên đực, mỡ thú vật mập, Ta không vui về huyết của Bò đực, chiên con và dê đực.
12. Khi các ngươi đến hiện diện trước mặt Ta, Ai đòi hỏi thứ này từ tay các ngươi? Là người d chà đạp các hành lang Ta.
13. Đừng dâng tế lễ chay vô ích cho Ta nữa; Ta ghét mùi hương; Ngày trăng mới, ngày Sa-bát, các lễ hội, Ta không chịu nổi các ngày lễ trọng thể cùng tội ác.
14. Linh hồn Ta ghét các ngày trăng mới Và các kỳ lễ hội của các ngươi. Các lễ ấy trở thành gánh nặng cho Ta, Ta lấy làm mệt mỏi để gánh chúng.
15. Khi các ngươi đưa tay lên cầu nguyện, e Ta che mắt ta khỏi các ngươi; Dù khi các ngươi cầu nguyện nhiều, Ta sẽ chẳng nghe.Tay các ngươi đầy máu.”

Tại sao? Bởi vì bên trong của đời sống không có sự biến cải. Chúa kêu gọi lòng thành khẩn ăn năn thống hối, nếu không Chúa sẽ ra tay thanh tẩy, để đời sống của con dân Chúa thật sự là “đền thờ Chúa Thánh Linh ngự.” Amen

Chúa Ðắc Thắng Tử Thần – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

177 views

 Kinh Văn: I Côr. 15:55-57

“Này sự chết, chiến thắng của mày đâu rồi? Này sự chết, nọc độc của mày đâu rồi? (Ô-sê 13:14)

Nọc độc của sự chết là tội lỗi, và quyền lực của tội lỗi là luật pháp. Nhưng cảm tạ Thiên Chúa! Ngài đã ban sự đắc thắng cho chúng ta qua Giê-xu, Chúa Cứu thế của chúng ta.” (Bản Phổ thông – Cơ quan Phiên Dịch Kinh Thánh Thế Giới 2002)

Cách đây không lâu, tôi có đọc một câu chuyện thật cảm động như sau: “Một ngày kia trên đưòng làng, có hai bố con thong thả bước, hai bên đưòng có những vưòn với hoa nở thật đẹp dưới ánh nắng ban mai. Các chùm hoa nở rộ, có đàn bưóm tung tăng hút nhụy hoa. Thích thú trưóc cảnh vật tươi đẹp, cô bé bèn chạy đến vườn hoa. Trong cảnh tĩnh mịch của buổi sáng.. Thình lình ông bố nghe tiếng kêu lớn đầy sợ hãi của cô gái:

– “Bố ơi! Con đang bị đàn ong đuổi nè!”

Nghe tiếng kêu của ngưòi con yêu, ông bố bèn tiến đến nơi đó, dùng cả hai cánh tay để xua đuổi các con ong. Bố bình tĩnh nói với cô gái:

– “Con ơi! Ðừng sợ, ong không làm hại con nữa đâu. Con nhìn cánh tay bố, ong đã chích vào tay bố rồi!” Cô con gái ôm lấy cha mình và rơi nước mắt, cô thấy bố vì mình mà đành để chịu những con ong chích thay cho mình, bố đã nhận lấy nọc ong chích vào tay, bố chịu cái đau đớn nhức nhối thế cho mình.” Sau đó, hai bố con tiếp tục trên đưòng làng trở về nhà…

Câu chuyện này nói lên tình thương đầy tràn của ông bố đối với con thân yêu, bé gái hoảng sợ trước các con ong tấn công chích nọc độc vào thân mình, tôi liên nghĩ đến một câu chuyện hai nghìn năm trước đây. Đấy là chuyện thật đã xảy ra trong lịch sử của nhân thế: Giê-xu Ki-tô đã đắc thắng hơn thần chết! Sự kiện Chúa Cứu-Thế Giê-xu chổi dậy từ huyệt mộ trong khung cảnh huy hoàng của một bình minh ngày thứ nhất trong tuần (Chúa nhật Phục sinh) đã được trước giả Phao-lô ghi lại trong I Côr. 15:55-57) “Này sự chết, chiến thắng của mày đâu rồi? Này sự chết, nọc độc của mày đâu rồi?

Thưa quí vị! “Nọc độc của sự chết” đây là gì ?

Ðời người trên trần thế tương tự như câu chuyện về hai bố con trên đây. Ðời ngưòi giống như bưóc chân các bố con đi trên đường, hai bên có vưòn hoa xinh tươi, có tiếng chim hót, có đàn bưóm lượn nhỡn nhơ hút nhụy hoa. Tuy nhiên, trên đường đi không phải lúc nào cũng yên tĩnh, thế rồi có các quấy nhiễu sợ hãi đến, như đàn ong xuất hiện đuổi theo bé gái, khi cô gái tung tăng bên các khóm hoa thì gặp bầy ong … Những quấy nhiễu đến với cuộc sống con người đã được Phao-lô mô tả qua hai câu Kinh Văn trên. Sự chết xảy đến là một nọc độc đã làm cho hằng tỉ tỉ người mất mạng sống. Sự chết xuất hiện đã lấy đi sự sống của bao nhiêu ngưòi thân yêu, bạn bè của chúng ta.

Hans Broson, một thi nhân Hoa Kỳ đã viết trong thi phẩm “I Walk In Danger All The Way:”

“Và sự chết đeo đuổi tôi
Trên suốt đàng,
Không có nơi chốn nào
Mà tôi thấy an lành,
Nó đến vào lúc đêm tối,
Nó đến vào buổi mai,
Nó ám ảnh tôi suốt đàng tôi đi.”

Trong một thư tín Phao-lô đã viết và gửi đến các tín hữu tại thành phố Cô-rinh-tô cổ tại Hi-lạp, Phao-lô đã phân tích về nỗi kinh hãi, lo âu, bối rối của con người khi đối diện với thần chết. Ðược sự mạc khải của Thánh Linh, ông đã cho chúng ta biết rằng con người phải nhận lãnh trách nhiệm về những gì mình đã làm. Sự chết được ví sánh như “nọc độc,” đó là tội lỗi. Con ngưòi thúc thủ trưóc “nọc độc” là sự chết. Suốt bao thế đại, từ một đại đế quyền uy hiển hách, nắm trong tay bao nhiêu binh hùng tướng mạnh, chinh đông phạt tây, làm bá chủ bá quyền trong đế quốc rộng lớn như Tần Thủy Hoàng, Thành cát Tư hãn, Alexander, Napoleon, Hitler … tuy nhiên, tất cả các ông này đều phải bị “nọc độc” làm mất mạng sống. Từ cổ chí kim, bao nhiêu bậc vĩ nhân, những vi khai sáng tôn giáo, bao nhiêu bậc hiền triết lừng danh, nhưng than ôi! Tất cả các vị này đều bó tay trước lưõi hái của thần chết!

Tại sao con người (tất cả mọi ngưòi) đều phải chết? Ðây là một định luật thiên nhiên mà Thiên Chúa đã đặt để trên con ngưòi, sau khi tổ phụ loài ngưòi vi phạm luật của Trời. Tội lỗi là nguyên nhân, sự chết là hậu quả của con người vi phạm luật của Thiên Chúa. Vậy ai sẽ cứu giúp chúng ta thoát khỏi án phạt là sự chết và sự chết đời đời? Phải có một kế hoạch giải cứu.

Sau khi tổ tông loài ngưòi là A-đam và Ê-va vi phạm luật Trời thì họ đã bị Thiên Chúa trừng phạt: sự chết về tâm linh (mất sự tương giao với Chúa trưóc khi phạm tội) và sự chết về thân xác. Nhưng vì Thiên Chúa thương yêu nhân loại, Ngài không muốn loài ngưòi phải bị chết mất. Do đó, Thiên Chúa đã hoạch định phưong pháp cứu ân qua chính Con-Duy-Nhất là Giê-xu. Hai nghìn năm trước, Giê-xu — Chúa Ngôi Hai – đã nhập thế và mang hình hài của một hài nhi, Giê-xu đã chịu hi sinh thân báu trên thập tự giá để như là sinh tế dâng lên Chúa Cha làm giá chuộc tội cho cả nhân loại, nhưng Giê-xu đã sống lại từ huyệt mộ vào bình minh của Chúa nhật. Hệ thống thần học Ki-tô giáo dựa trên nền tảng của ba sự kiện bất khả phân ly nói trên. Thiếu một trong ba sự kiện này, Ki-tô giáo sẽ sụp đổ.

Giê-xu chính là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Ðấng vô tội, thánh khiết, nhưng Ngài đã bằng lòng làm sinh tế chuộc tội của nhân loại trưóc mặt Chúa Cha. Giê-xu đã chết trên thập tự giá, huyết Ngài đã đổ ra, không có sự đổ huyết của Giê-xu thì chắc chắn không có sự tha tội từ Chúa Cha. Tuy nhiên, Giê-xu đã không bị sự chết hãm hại, Ngài đã đắc thắng tử thần! Cái nọc độc sự chết không thể thắng hơn Giê-xu. Chính sự sống lại huy hoàng của Chúa Cứu-Thế là một bảo đảm cho con ngưòi hôm nay “Ai tin Giê-xu, không bị hư vong, nhưng đưọc sự sống vĩnh cửu.” (Phúc âm Giăng 3:16) Lời hứa này dành cho bất cứ cá nhân nào đến với Chúa cách riêng tư, thành khẩn ăn năn tội lỗi của mình và tiếp nhận Giê-xu làm Cứu-Chúa của cuộc đời mình.

Hơn 60 năm về trước, thân phụ tôi là một mục sư phục vụ Chúa tại một Hội thánh thuộc vùng quê tại Nam phần, khi ấy tôi là một học sinh và tôi đã tận mắt chứng kiến một chuyện thật đã xảy ra:

Miền quê vào vụ lúa, các nông dân ra đồng làm việc canh tác. Sau những cơn mưa lớn, ruộng lúa có mực nưóc dâng cao, nông dân vào cánh đồng, nước có thể lên đến gần đầu gối. Họ dùng cái phảng để chặt đi các cỏ cao, mục đích để dọn sạch đồng ruộng và chuẩn bị cho việc cày bừa, gieo mạ… Một buổi chiều, trên đưòng làng từ trường học trở về nhà, tôi thấy một nông dân bổng nhiên thét lên, và khuôn mặt ông ta có vẻ đau đớn, có nhiều ngưòi trong xóm bao quanh nông dân này. Mấy phút sau, mồm ông ta sôi lên, bọt trắng trào ra hai bên mép, tay chân co giật, tay chân bắt đầu sưng lên. Ấy là vào mùa mưa, khi có nưóc trên đồng ruộng, rắn thường xuất hiện. Ông này đã bị rắn độc cắn vào bắp chân. Trong số người vây quanh ông ta, có một người lên tiếng là mình biết có ông thầy thuốc rắn nổi tiếng trong vùng. Thế rồi, anh ấy tình nguyện lấy xe đạp để thỉnh thầy thuốc rắn đến chửa trị … Ít lâu sau, ông thầy thuốc rắn đến, ông ta quan sát vết thương của nông dân đã bị rắn độc cắn, nơi bị rắn cắn đã sưng vù, bắp chân bị tím bầm, thầy thuốc rắn đã hỏi nông dân này các câu hỏi cần thiết… Sau đó, ông ta bèn lấy một viên thuốc đặc biệt đặt vào chỗ dấu răng. Tôi thấy, dần dần nông dân này hồi tỉnh, tay chân bắt đầu cử động, 10 phút, 15 phút, 20 phút trôi qua, nọc rắn độc đã được thần dược chửa trị. Nông dân này đã thoát chết! Suốt hơn 60 năm qua, khi tôi nhớ lại câu chuyện này, tôi không bao giờ quên gương mặt của nông dân này sau khi được ông thầy thuốc rắn cứu, gưong mặt ông ta vô cùng mừng rỡ, tưởng đã bỏ mạng vì bị rắn độc cắn, nhưng nay lại sống! Nông dân này đã bái tạ thầy thuốc đã ra tay cứu mạng. Câu hỏi mà thầy thuốc đã hỏi nông dân này: “Anh có biết mình đã bị rắn mái gầm cắn phải không? Ðây là loại rắn độc, ai bị rắn này cắn mà không có thuốc chữa sẽ toi mạng.” Ông thầy thuốc nói thế, mọi ngưòi đều nghe. “Thế anh có muốn tôi chữa lành nọc rắn nguy độc này không?”
Câu trả lời mà mọi ngưòi chứng kiến từ đầu đã nghe nông dân này đáp: “Dạ thưa ông thầy, tôi rất muốn, xin ông thầy làm ơn ra tay cứu, tôi đội ơn ông thầy nhiều!”

Kinh Văn Ê-sai 25: 8: “Thiên Chúa sẽ hủy diệt sự chết đến đời đòi. Chúa sẽ lau nước mắt trên mọi mặt; Ngài sẽ cất đi sự nhục nhã của dân Ngài trên toàn quả đất.”
Thi hào Nguyễn Du đã có các vần thơ tuyệt tác mô tả cái viễn tưọng của cõi âm ti đang chờ đợi con người:

“Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi mây lạnh buốt xưong khô,
Não ngưòi thay bấy chiều thu,
Nghìn lau nhuốm bạc, giếng ngô rụng vàng.
Ðưòng bạch dương, bóng chiều man mác,
Ngọn dương còn thế nữa là cõi âm.”

Văn hào Pháp Victor Hugo đã viết:”Demain c’est le tombeau!” (ngày mai nấm mộ là vùng gửi xương)

Thưa quí vi!

Từ cổ chí kim, nỗi hãi hùng của con ngưòi vẫn là cái chết. Bệnh nhân cần y sĩ. Có thầy thuốc ở bậc trung, có thầy vào bậc danh y như Biển Thưóc bên Trung hoa… Thời hiện đại cũng có nhiều bậc danh sư của Tây Y, nhưng cho đến nay, dù cho có lỗi lạc đến mấy, chúng ta thấy chẳng có bậc danh sư nào đắc thắng hơn thần chết. Thế nhưng, chỉ có một Ðấng duy nhất là Giê-xu, Ngài đã chết và sống lại vẻ vang trưóc tử thần. Hiện nay, Ngài đang sống và cầm quyền tể trị trên thế giới và muôn vật.

Vì Giê-xu là Nguồn Sống. Chúa đã tuyên phán:

“TA là con đưòng, Chân lý và Sự Sống” (Phúc âm Giăng 14:6)

Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

 

Giáng Sinh và Cậu Bé Mồ Côi

226 views

Lúc ấy, vào cuối năm 1952, chiến tranh gieo tang tóc đau thương trên khắp đất nước Triều Tiên. Mùa đông tại Triều Tiên năm đó thật kinh khiếp: trời lạnh buốt xương, thực phẩm thì khan hiếm; bao nhiêu người chết vì lạnh, vì đói. Hôm ấy là đêm Giáng Sinh, trên cánh đồng lớn tuyết phủ trắng xóa, một thiếu phụ trẻ có thai gần đến ngày sinh, lê từng bước chậm chạp, cố gắng đi đến nhà một vị giáo sĩ mà nàng tin là có thể giúp nàng trong giờ đứa con đầu lòng ra chào đời. Chồng của thiếu phụ vừa mới tử nạn trong chiến trận. Bây giờ còn một mình, không biết nương nhờ vào ai, nàng nghĩ đến gia đình vị giáo sĩ đầy tình thương, hy vọng gia đình này sẽ giúp nàng khi đứa con ra đời.

Trời đã tối, để đi đến nhà vị giáo sĩ, thiếu phụ trẻ phải đi qua chiếc cầu bắc ngang trên một con suối. Nhưng khi nàng vừa đi đến đầu cầu thì một cơn đau dữ dội bất ngờ tràn đến. Cơn đau quặn thắt khiến thiếu phụ gập người lại và ngã xuống trên tuyết. Nàng thầm nghĩ: Không, con mình không thể ra chào đời giữa trời tuyết giá như thế này! Nói xong nàng cố gượng dậy để đi tiếp, nhưng cơn đau không giảm mà lại càng gia tăng. Không một người nào qua lại trên cánh đồng vắng vẻ để nàng có thể cầu cứu. Biết không thể đi ngay được, thiếu phụ cố gắng lết đến bên dưới chân cầu, nghĩ rằng khi cơn đau giảm bớt nàng sẽ tiếp tục đoạn đường dẫn đến nhà vị giáo sĩ. Nhưng thiếu phụ đáng thương không ngờ rằng tại dưới chân cầu đó, trong giá tuyết cô đơn một mình, nàng đã sinh một bé trai. Bé ra đời quá bất ngờ, thiếu phụ không có chăn mền để đắp cho con. Với tình thương vô bờ bến của người mẹ, nàng cởi chiếc áo ngoài rồi luôn cả áo trong để quấn cho con. Sau đó, vì mệt và mất sức, nàng nằm xuống bên con và thiếp đi.

Sáng hôm sau, là ngày lễ Giáng Sinh, một nữ giáo sĩ lái xe đi qua chiếc cầu nhỏ để đem thức ăn đến cho một gia đình nghèo trong vùng. Khi chiếc xe đến giữa cầu thì khựng lại rồi tắt máy, thì ra xe hết xăng. Nữ giáo sĩ hơi bực trong lòng vì xe không chạy được nữa mà phải ngừng giữa trời tuyết và hỏng cả chương trình của bà trong ngày hôm đó. Bà lầm thầm trong miệng: Chúa ơi, sao con phải vất vả quá như vầy! Và nói thầm với chính mình: Bây giờ đành phải đi bộ thôi chứ không còn cách nào khác. Nói xong, bà xuống xe và bắt đầu bước đi. Ngay lúc đó bà nghe có tiếng con nít khóc, tiếng khóc nhỏ và thật là yếu ớt. Thoạt đầu bà nghĩ: Ồ, không phải tiếng trẻ con khóc đâu, làm gì có trẻ con nào ở đây trong trời tuyết như vầy! Nhưng là phụ nữ, trực giác cho bà biết đó là tiếng con nít khóc, đúng ra, đó là tiếng khóc của một bé sơ sinh. Nữ giáo sĩ yên lặng chú ý nghe một lần nữa, thì nhận ra tiếng khóc đó từ dưới chân cầu vang lên. Bà liền chạy xuống bên dưới chân cầu, chỗ phát ra tiếng khóc, và vô cùng kinh ngạc khi thấy có một em bé mới sinh, cuống rốn còn nối liền với bà mẹ, nhưng người mẹ thì đã chết từ bao giờ.

Động lòng trước hoàn cảnh thương tâm của đứa bé, nữ giáo sĩ đem bé về nuôi, nhận làm con và đặt tên là Soo Park. Dù phải chăm sóc hằng trăm bé khác trong viện mồ côi, em Soo Park được bà yêu thương cách đặc biệt. Vài năm sau, khi em đã hiểu biết, bà kể lại cho em nghe bà đã tìm thấy em ở đâu, trong hoàn cảnh như thế nào. Bà thường nói với Soo Park: Con biết không, mẹ con thương con vô cùng, mẹ con đã hy sinh, chịu lạnh để con được sống. Bà cũng cho Soo Park biết rằng mọi việc đã xảy ra trong chương trình của Đức Chúa Trời, Chúa muốn cứu em nên xe của bà đã bị hết xăng khi đi đến giữa cầu. Nếu chiếc xe hết xăng trước đó hay sau đó thì bà đã không tìm thấy em.

Em Soo Park tiếp tục lớn lên trong tình thương của người mẹ nuôi. Thấm thoát em được mười hai tuổi. Sinh nhật thứ mười hai của em nhằm đúng vào ngày lễ Giáng Sinh. Em xin bà giáo sĩ cho em đi thăm mộ của mẹ, vì em chưa được đến thăm lần nào. Bà giáo sĩ đưa em đến nghĩa trang nơi mẹ em được chôn. Ngày hôm đó tuyết cũng phủ trắng khắp nơi, tuyết phủ đầy trên ngôi mộ của mẹ em. Em Soo Park đến quì bên mộ, yên lặng một hồi lâu. Rồi em đứng lên, cởi chiếc áo choàng đang mặc trên người, phủ lên mộ mẹ; em lại cởi lớp áo trong, phủ thêm lên mộ. Vị nữ giáo sĩ yên lặng theo dõi. Bà thầm nghĩ: chú bé này làm gì vậy, trời lạnh như cắt mà cởi hết áo ra như thế. Chờ thêm vài giây, bà đến gần, đặt tay lên vai Soo Park và nói: Thôi, được rồi, mẹ con trên thiên đàng đã nhìn thấy điều con làm và biết là con yêu mẹ rất nhiều. Thôi, con mặc áo vào đi chứ không rồi bị cảm lạnh bây giờ. Lúc đó, em Soo Park bật lên khóc, em vừa khóc vừa nói với mẹ, người mẹ mà em chưa bao giờ gặp mặt: Mẹ ơi, hôm đó, lúc sinh ra con, mẹ chịu lạnh nhiều hơn con đang chịu bây giờ phải không? Vì thương con, mẹ đã lấy áo đắp cho con và phải chịu lạnh nhiều hơn thế này phải không mẹ? Nói xong em ôm mặt khóc nức nở. Nữ giáo sĩ đỡ em dậy, đưa em ra về.

Thưa quí vị, câu chuyện chúng tôi vừa kể là câu chuyện thật, đã xảy ra trên đất nước Triều Tiên nhiều thập niên trước, và Mục sư Harol Sala đã kể lại trong một chương trình phát thanh Giáng Sinh năm 2000. Câu chuyện nói lên tình thương lớn lao của một người mẹ. Người mẹ trẻ vì thương con đã hi sinh cho con. Bà chết để con được sống. Có lẽ chúng ta nghĩ, trên đời này không có tình thương nào sâu đậm, cao cả và đáng so sánh với tình thương của người mẹ. Nhưng thưa quí vị, tình thương Thiên Chúa dành cho con người chúng ta lớn lao và sâu đậm hơn tình thương của người mẹ. Chính Chúa là Đấng ban cho các bà mẹ tình thương đối với con. Tình thương của Chúa đã đụng đến trái tim của người mẹ trẻ kia, khiến bà sẵn sàng hi sinh cho đứa con mới ra đời. Chúng ta có thể nói, tình thương của người mẹ giúp chúng ta hiểu được phần nào tình thương Chúa dành cho chúng ta. Thánh Kinh cho biết, tình yêu Đức Chúa Trời dành cho chúng ta lớn hơn, sâu đậm hơn tình mẫu tử. Chúa hứa rằng dù người mẹ có thể quên đứa con nhỏ còn bú, Ngài không bao giờ quên chúng ta. Sách Ê-sai trong Cựu Ước ghi như sau: Người đàn bà có thể quên con mình đang bú, hay không thương xót con trai một mình sao? Dù người mẹ có thể quên con mình, nhưng chính ta sẽ không quên ngươi (Tiên Tri Ê-sai 49:15).

Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta không những sâu đậm hơn tình mẩu tử nhưng cũng cao cả, lớn lao không bút mực nào diễn tả được. Chúa không chỉ nói yêu chúng ta, nhưng Ngài đã bày tỏ tình yêu đó bằng hành động cụ thể. Thánh Giăng viết về tình yêu của Chúa như sau: “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều này: Đức Chúa Trời đã sai Người Con Một của Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống. Nầy, tình yêu thương ở tại đây: Ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời nhưng Ngài đã yêu chúng ta và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta (I Giăng 4:9, 10). Một bản Kinh Thánh khác dịch câu này như sau: Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta (Bản Dịch Công Giáo). Chính vì tình thương đó mà Chúa đã lìa bỏ tất cả vinh quang quyền quí trên thiên đàng để sinh ra làm người, trong thân vị của Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu sinh ra làm một em bé yếu đuối, nghèo nàn; để rồi khi được ba mươi tuổi Ngài đã hi sinh chịu chết trên thập tự giá để chúng ta được tha tội và được sự sống vĩnh cửu.

Nói đến Giáng Sinh là nói đến tình yêu của Chúa đối với chúng ta, là nói đến Tin Mừng Cứu Rỗi mà Chúa đã đem đến cho nhân loại. Nếu chúng ta chỉ mừng Giáng Sinh với mua sắm, tiệc tùng, quà tặng, ngay cả ca hát nữa mà không tiếp nhận Tin Mừng Cứu Rỗi cho chính mình, không mời Chúa Cứu Thế Giê-xu bước vào cuộc đời chúng ta, ngự trị tấm lòng chúng ta thì Giáng Sinh vẫn thật là vô nghĩa. Trong đêm Giáng Sinh đầu tiên, thiên sứ đã loan báo với các mục đồng: “Này, tôi báo cho các anh một Tin Lành, sẽ là niềm vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay, tại thành Đa-vít đã sinh cho các anh một Đấng Cứu Thế, Ngài là Đấng Cứu Thế, là Chúa” (Phúc Âm Lu-ca 2:10, 11).

Chia xẻ những lời này với quí vị hôm nay, chúng tôi không mong ước gì hơn là trong mùa Giáng Sinh này, quí vị sẽ mở rộng tâm hồn, tiếp đón Chúa Cứu Thế Giê-xu, mời Ngài bước vào cuộc đời quí vị. Ngài sẽ tha thứ tội cho quí vị, tiếp nhận quí vị làm con của Ngài, ban cho quú vị sự cứu rỗi và sự sống vĩnh cửu.

Kính chúc quí vị một Giáng Sinh tràn đầy hồng ân và ơn lành của Chúa.

Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

 

ĐI TÌM CON THIÊN CHÚA RA ĐỜI

237 views

KINH VĂN: Lu-ca 2:1-20: 1 Vào thời ấy, Hoàng Đế Âu-gút-tơ ra chiếu chỉ kiểm tra dân số khắp đế quốc La Mã. 2 Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên được thực hiện, khi Qui-ri-ni-u làm thống đốc Sy-ri. 3 Mọi người đều phải về quê quán đăng ký. 4 Vì Giô-sép thuộc giòng họ nhà Đa-vít nên cũng từ thành Na-xa-rét, thuộc vùng Ga-li-lê xuống Giu-đê, đến Bết-lê-hem, thành của Đa-vít — 5 để đăng ký cho mình và cho Ma-ri, người đã đính hôn với mình, đang có thai. 6 Trong khi ở đó thì Ma-ri chuyển bụng sinh nở. 7 Nàng sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc hài nhi đặt nằm trong máng cỏ, vì quán trọ không còn chỗ. 8 Trong vùng đó, có mấy người chăn chiên ở ngoài đồng, thức đêm canh bầy chiên. 9 Một thiên sứ của Chúa hiện đến, hào quang Chúa toả sáng quanh họ, nên họ rất khiếp sợ. 10 Thiên sứ bảo: “Đừng sợ! Vì này tôi báo cho các anh một Tin Mừng, một niềm vui lớn cũng là Tin Mừng cho mọi người. 11 Hôm nay, tại thành Đa-vít, một Đấng Cứu Thế vừa giáng sinh cho các anh. Ngài là Chúa Cứu Thế, là Chúa. 12 Đây là dấu hiệu cho các anh nhận ra Ngài: Các anh sẽ gặp một hài nhi bọc trong khăn đặt nằm trong máng cỏ.” 13 Bỗng nhiên, một đạo thiên binh xuất hiện cùng với thiên sứ ấy, ca ngợi Đức Chúa Trời: 14 “Vinh danh Đức Chúa Trời trên các tầng trời. Bình an dưới đất cho người Ngài thương.” 15 Sau khi các thiên sứ lìa họ về trời, mấy người chăn chiên rủ nhau: “Chúng ta hãy vào thành Bết-lê-hem, xem việc vừa xảy ra mà Chúa đã cho ta hay!” 16 Họ vội vàng ra đi, tìm gặp được Ma-ri với Giô-sép, và thấy hài nhi đang nằm trong máng cỏ. 17 Thấy vậy, họ thuật lại lời thiên sứ nói về hài nhi. 18 Ai nghe cũng đều ngạc nhiên về những lời tường thuật của mấy người chăn chiên. 19 Còn Ma-ri thì ghi khắc những lời ấy và để tâm suy nghiệm. 20 Mấy người chăn chiên trở về, tôn vinh và ngợi khen Đức Chúa Trời vì tất cả những điều họ nghe và thấy, đúng như lời thiên sứ đã báo trước cho mình.”
Nội dung ghi lại thái độ của các mục đồng sau khi được các thiên sứ hiện đến loan báo tin vui về sự ra đời của Đấng Cứu Thế. Họ đã hăng hái đáp trả bằng cách vội vàng mời gọi nhau lên đường đi đến thành Bết-lê-hem để xem sự việc xảy ra mà các thiên sứ loan báo. Theo lời thiên thần hướng dẫn, họ đã đi và tìm thấy Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ và hai ông bà Giô-sép, Ma-ri-a đứng bên. Rồi họ thuật lại mọi sự từ khi được thiên thần loan báo tới việc tìm thấy Hài Nhi, đúng với những điều họ đã nghe biết. Cuối cùng họ vui vẻ về nhà, vừa đi vừa ca tụng tôn vinh Thiên Chúa, đã ban Đấng Cứu Thế xuống cho loài người.

SỐNG VỚI LỜI CHÚA “Họ vội vàng ra đi, tìm gặp được Ma-ri với Giô-sép, và thấy hài nhi đang nằm trong máng cỏ”. – Lu-ca 2: 16
CÂU CHUYỆN GIÁNG SINH: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA

Vào thời trung cổ, tại nước Nga có một hoàng tử tên là Alexis, chàng có một tình thương rất đặc biệt dành cho những người nghèo khổ. Hoàng tử thường dành ra buổi chiều để đi đến các xóm nghèo và ân cần thăm hỏi giúp đỡ những ai gặp cảnh cơ cực. Tuy vậy, hoàng tử rất ngạc nhiên khi thấy dân chúng tỏ vẻ thờ ơ khi thấy chàng xuất hiện. Một hôm hoàng tử đến gặp một vị ẩn sĩ nổi tiếng khôn ngoan để xin chỉ giáo phương cách chinh phục tình cảm của dân chúng.
Rất nhiều năm dài trôi qua, người ta không thấy hoàng tử xuất hiện đi thăm người nghèo. Nhưng rồi một ngày kia, có một người tuổi trung niên xuất hiện đến thăm khu xóm nghèo. Khác với hoàng tử trước kia ăn mặc sang trọng, nhưng người này mặc áo quần màu trắng đơn sơ giống như một y sĩ. Ông ta thuê một căn nhà bình thường để ở. Rồi mỗi ngày từ lúc bình minh, ông đã ra khỏi nhà, tay xách một chiếc cặp đựng các dụng cụ y tế và thuốc men. Ông ta đến thăm các gia đình có người bệnh để khám bệnh và phát thuốc miễn phí chữa bệnh. Y sĩ này tài giỏi chữa bệnh, nên có nhiều bệnh nhân bị bệnh trầm trọng nhưng họ đã được ông chữa lành. Không bao lâu, ông ta đã chinh phục được cảm tình quí mến của mọi người lớn trẻ nhỏ trong vùng. Đây là điều mà trước đó Hoàng tử Alexis không sao đạt được. Vị y sĩ này dần dần được nhiều người tín nhiệm. Mỗi khi thấy ông là có nhiều người bao chung quanh nhờ cậy. Có ngày ông dàn hòa được hai người đang tranh cãi ẩu đả. Ngày khác ông hòa giải được đôi vợ chồng giận ghét muốn lìa bỏ nhau. Ông cũng hòa mình chơi chung và khuyên dạy các trẻ em ngỗ nghịch dần dần trở nên ngoan ngoãn dễ dạy và học hành chuyên cần.
Thật ra vị y sĩ đó chính là Hoàng tử Alexis. Sau khi gặp một vị ẩn sĩ, và nghe lời khuyên của vị này, hoàng tử đã dành thời giờ đi học nơi một y sĩ tài ba khoảng mười năm. Sau khi thành tài, hoàng tử đã rời bỏ cung điện, đến sống hòa mình giữa xóm lao động nghèo khó, trở thành một người như họ và yêu thương phục vụ họ tận tình. Chính tình thương kèm theo sự khiêm nhu và hi sinh của hoàng tử, đã đem lại kết quả tốt đẹp: Hoàng tử đã chinh phục được tình cảm yêu mến kính trọng của thần dân, đặc biệt là những người nghèo khổ bất hạnh.

SUY NIỆM

– Hoàng tử Alexis trong câu chuyện là hình ảnh của Đấng Cứu Thế Giê-xu. Ngài đã yêu thương nhân loại, Ngài đã tự nguyện từ trời cao xuống thế làm một người phàm. Ngài được sinh ra trong thân phận nghèo khó, sống một cuộc đời lao động vất vả tại Naxarét như bao dân làng. Ngài đã trở thành EM-MA-NU-EN nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Quả thật: “Con Thiên Chúa đã trở nên loài người, để làm cho con loài người trở nên Con Thiên Chúa”.
– Trong Mùa Giáng Sinh này, chúng ta thường thấy hình ảnh máng cỏ chuồng chiên tại nhà thờ hay tư gia: Hài Nhi Giê-su nằm trong máng cỏ, bên cạnh là Ma-ri-a và Giô-sép thờ lạy. Cũng có mấy chiên, lừa đang quì gần bên thở hơi ấm cho Hài Nhi mới sinh.
– Mầu Nhiệm Giáng Sinh là cách Thiên Chúa diễn tả tình thương lớn lao nhất đối với nhân loại. Thiên Chúa đã sai Con Một xuống thế làm người, trở nên giống như chúng ta mọi đàng, ngoại trừ không có tội. Người đã yêu thương chúng ta đến cùng, và biểu lộ tình yêu bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời, làm nhiều phép lạ cứu người, kêu gọi lựa chọn và huấn luyện các môn đệ, thiết lập thánh lễ Tiệc Thánh và cuối cùng Ngài sẵn lòng chịu nhục hình trên thập giá để đền tội thay cho chúng ta, và sống lại để ban lại sự sống cho chúng ta. Người đã mở ra con đường lên trời cho chúng ta. Đó là con đường yêu thương, quên mình và phục vụ. Đó là chấp nhận “Qua đau khổ tử nạn vào vinh quang phục sinh”. Ngài mời gọi chúng ta hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hàng ngày mà đi theo. Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ được sống lại với Ngài, và sau này sẽ cùng được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn trên thiên đàng với Ngài.
THẢO LUẬN: Sau khi được thien ś̀u loan báo tin vui, các mục đồng đã vội vã lên đường đi Bê-lem để tìm Hài Nhi Cứu Thế. Sau khi gặp Ngài, họ đã thuật lại những gì mắt thấy tai nghe. Còn chúng ta, trong những ngày này chúng ta sẽ làm gì để loan báo Tin Mừng Chúa Giáng Sinh cho các bạn bè và những người chưa nhận biết Chúa?

LỜI NGUYỆN CẦU:
– LẠY CHÚA GIÊ-XU! Chúa mang ơn cứu rỗi xuống cho trần gian. Nhưng loài người chúng con chỉ đón nhận được ơn cứu rỗi của Chúa nếu chúng con biết đi tìm kiếm Chúa. Chúa luôn phát ra tín hiệu để mời gọi và không ngừng chờ mong chúng con đáp trả. Xin cho chúng con biết noi gương các mục đồng: kêu mời cùng nhau đến Bết-lê-hem để tìm Hài Nhi Cứu Thế mới sinh mà họ mới được các thiên sứ báo tin.

– LẠY CHÚA! Xin cho chúng con trở thành những ông già No-en đầy lòng nhân ái, luôn sẵn sàng cho đi một nụ cười thân ái, một lợ̀i khich le an ủi, một món quà chứa đựng tình người. Xin cho chúng con biết đến vói những người bất hạnh để chia xẻ tình thương cho họ. Ước gì niềm vui trong ngày mừng Chúa Giáng Sinh không dừng lại ở những của cải vật chất bên ngoài, nhưng ở tình người được nhân lên mãi, được nối kết thành vòng tay lớn,xây dựng một thế giới ngày một bình an thịnh vượng và đầy tràn hạnh phúc.

Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) – Hans Christian Anderson

286 views

Hans Christian Andersen sinh ngày 02 tháng Tư năm 1805 và mất ngày 04 tháng 8 năm 1875. Ông là một nhà văn Đan Mạch nổi danh về những câu chuyện trẻ em. Những bài thơ và văn xuôi của ông đã được dịch ra hơn 150 ngôn ngữ, là nguồn cảm hứng cho nhiều bức tranh, vở kịch, vũ điệu ballet, và phim ảnh.
Cùng với câu chuyện ‘Oliver Twist’ cuả Charles Dickens đã viết ra chín năm trước đó, câu chuyện ‘The Little Match Girl’ đã soi thêm một chút ánh sáng lương tâm vào một ngõ tối u uẩn mà xã hội Âu Châu thời bấy giờ làm ngơ. Đó là tình cảnh của những đứa trẻ con nhà nghèo, phải đi lao động sớm, bị hành hạ ngược đãi nhưng chỉ biết im lặng chiụ đựng.

                           Mời quí vị đọc câu chuyện sau đây:
Cô Bé Bán Diêm (The Little Match Girl) – Hans Christian Anderson

Lạnh chưa từng thấy. Tuyết lại rơi, bầu trời u ám, và màn chiều đã buông xuống, buổi chiều cuối cùng của năm. Trong bóng tối và gió lạnh tê tái, cô bé nghèo nàn thất thểu đi dọc theo ven đường, đầu để trần, chân đi đất. Lúc em rời nhà sáng nay, em cũng có đôi guốc đấy chứ. Thật thế, nhưng đôi guốc thì có giúp ích gì đâu! Đôi guốc rộng quá khổ, mẹ em vẫn còn đi, rộng đến nỗi, cô bé khốn khổ đánh rớt mất khi cô phải nhảy sang lề đường để tránh hai chiếc xe ngựa lộng lẫy đang phóng như bay trên đường phố.

Một chiếc guốc mất tõng đâu rồi, còn chiếc kia thì một tên ranh con nhặt lấy, rồi chạy biến mất. Thằng ranh ấy có lẽ nghĩ rằng chiếc guốc to đủ để dùng làm nôi cho con của nó sau này. Thế là cô bé phải lết đi với đôi chân trần nhỏ bé, đôi chân đỏ lên và tím bầm vì lạnh. Cô bé mang theo một lô diêm quẹt, một số để ở trong túi yếm, một số cầm trên tay. Không ai mua diêm cuả cô cả, cả một ngày dài; Và cũng chẳng có ai cho cô một đồng xu.

Cô gái đi rón rén, run rẩy vì lạnh và đói – một hình ảnh đau lòng, cô bé thật đáng thương!

Nhiều cụm tuyết bám vào mái tóc dài của cô, những lọn tóc quăn và đẹp lượn quanh cổ nhỏ bé. Nhưng ngay cả hình ảnh của làn tóc, cô bé cũng chưa bao giờ được biết tới. Lúc ấy, bên trong các cửa sổ đã thắp nến lên, lấp lánh, và mùi vị ngỗng rô-ti bay ra thơm phức. Bạn phải biết rằng đây là đêm giao thừa và sắp bước qua năm mới. Đúng vậy, cô gái cũng nghĩ thế!

Tới một cái góc do hai căn nhà tạo ra, vì căn nhà xây lấn ra đường nhiều hơn căn nhà nọ, cô bé ngồi xuống và co rúm người. Đôi chân gầy guộc của cô áp thật chặt vào người, nhưng cô vẫn thấy lạnh, càng lúc càng lạnh thêm, mà cô lại không dám trở về nhà, vì cô chưa bán được một cái que diêm nào, và một xu ăn xin cô cũng chẳng có: Cha cô chắc chắn sẽ cho cô một trận đòn, mà ở nhà thì cũng lạnh, nhà chỉ có cái mái che, gió rít từng hồi, dù cho các khe hở lớn đã có rơm và giẻ rách chẹn vào.

Hai bàn tay nhỏ bé của cô bé gần như tê cóng lại. Ô! một cái diêm cháy có thể sẽ mang đến một chút ấm áp, nếu cô dám lấy một que diêm ra, trong cả một bó diêm, thì cô sẽ quẹt vào tường, và sưởi ấm những ngón tay.

Thế rồi cô bé lấy một que diêm ra. “Xoạt!” que diêm sáng rực, cháy bùng! Một ngọn lửa sáng lên, ấm áp, giống như một ngọn nến, cô hơ tay lên trên: thật là một ánh sáng tuyệt vời. Giống như cô đang được ngồi trước một lò sưởi lớn, một cái lò có chân bằng đồng thau sáng chói và nắp củng bằng đồng thau trạm trổ. Ngọn lửa cháy mang lại một nguồn hạnh phúc lớn lao, mang lại một hơi ấm diệu kỳ. Cô bé duỗi chân ra để sưởi, nhưng ngọn lửa tắt phụt, lò sưởi biến mất: chỉ còn lại một chút than tàn lụi dần trong tay.

Cô quẹt một que diêm khác vào tường: que diêm cháy sáng rạng rỡi, và nơi mà ánh sáng chiếu lên tường, nơi đó của bức tường trở nên trong suốt như thể người ta nhìn qua một tấm màn che, và cô có thể nhìn vào căn phòng. Đã có một cái bàn trải khăn trắng như tuyết, trên bàn chén bát lộng lẫy bằng sứ đã dọn sẵn, và một món ngỗng rô-ti có nhồi táo và mận khô hấp dẫn đang bốc khói. Nhưng điều bất ngờ xảy đến là, con ngỗng đã nhảy xuống bàn, lăn trên sàn sàn nhà với cả con dao và cái nĩa cắm sẵn trên ngực, lăn cho đến khi tới gần cô bé nghèo thì que diêm lại tắt và chẳng còn thấy gì nữa ngoài tường dày, lạnh lẽo, ẩm ướt.

Cô bé quẹt một que diêm khác. Bây giờ, cô ngồi ngay dưới một cây giáng sinh lộng lẫy, một cây giáng sinh còn lớn hơn, và được trang hoàng nhiều hơn là cây giáng sinh mà cô nhìn thấy qua cửa kính của một nhà thương gia giàu có.

Có hàng ngàn ngọn đèn sáng rực trên cành cây xanh, và có nhiều bức hình màu sắc, giống như là cô đã thấy trên cửa sổ của các gian hàng. Cô bé giơ tay với lên cây giáng sinh thì que diêm lại tắt. Ánh sáng cây giáng sinh bay bổng lên cao và cao hơn, cho đến khi trông giống như những vì sao trên trời; một vì sao rớt xuống và xẹt đi thành một vệt sáng dài.

“Một người nào đó vừa mới qua đời!” Cô bé nói một mình. Đấy là điều mà bà ngoại già nua của cô, người duy nhất yêu thương cô, nhưng nay thì không còn nữa, bà đã nói với cháu gái rằng khi có một ngôi sao rơi, đấy là có một linh hồn bay lên với Chúa.

Cô quẹt thêm một que diêm nữa: Lại một lần nữa có ánh sáng, và trong vầng hào quang hiện ra bà ngoại tươi sáng và rạng rỡ, rất dịu dàng, đầy vẻ thương yêu.

“Bà ơi!” Cô bé kêu lên. “Ô, dẫn con đến với bà đi! Đừng đi mất khi que diêm tắt; bà đừng đi giống như cái lò sưởi, như con ngỗng thơm ngon, như cây Giáng sinh tuyệt vời!” Và cô vội quẹt hết bó diêm vào tường, cô muốn chắc chắn rằng bà ngoại ở lại với nó. Và bó diêm đã lòe lên một ánh sáng thật rực rỡ, sáng hơn cả buổi trưa ban ngày: bà của cô bé cũng trở nên tươi đẹp và cao lớn hơn bao giờ hết. Bà bế cô bé lên tay bà, và cả hai cùng bay bổng trong ánh sáng và niềm vui, lên cao, lên thật là cao, và rồi thì không còn lạnh nữa, cũng không còn đói nữa, cũng không còn lo lắng nữa – vì họ đi lên nhà của Chúa.

Vào buổi sáng bình minh lạnh giá ngày hôm sau, tại cái góc nhà, cô bé vẫn ngồi bất động nơi đấy, với một đôi má hồng và một nụ cười tươi, thân mình vẫn còn dựa vào tường. Cô bé chết vì lạnh trong đêm cuối cùng của năm. Cái xác đông cứng còn ngồi bên cạnh một lô diêm, một bó đã cháy hết. “Nó cố sưởi ấm,” người qua đường thờ ơ nói. Nhưng lại không có ai nghĩ ra về những điều đẹp đẽ mà cô bé đã nhìn thấy. Không có ai đã dám mơ ước đến sự lộng lẫy huy hoàng, mà cô bé cùng bà đã đón mừng một Năm Mới.

                                            The Little Match Girl

Most terribly cold it was; it snowed, and was nearly quite dark, and evening– the last evening of the year. In this cold and darkness there went along the street a poor little girl, bareheaded, and with naked feet. When she left home she had slippers on, it is true; but what was the good of that? They were very large slippers, which her mother had hitherto worn; so large were they; and the poor little thing lost them as she scuffled away across the street, because of two carriages that rolled by dreadfully fast.

One slipper was nowhere to be found; the other had been laid hold of by an urchin, and off he ran with it; he thought it would do capitally for a cradle when he some day or other should have children himself. So the little maiden walked on with her tiny naked feet, that were quite red and blue from cold. She carried a quantity of matches in an old apron, and she held a bundle of them in her hand. Nobody had bought anything of her the whole livelong day; no one had given her a single farthing.

She crept along trembling with cold and hunger–a very picture of sorrow, the poor little thing!

The flakes of snow covered her long fair hair, which fell in beautiful curls around her neck; but of that, of course, she never once now thought. From all the windows the candles were gleaming, and it smelt so deliciously of roast goose, for you know it was New Year’s Eve; yes, of that she thought.

In a corner formed by two houses, of which one advanced more than the other, she seated herself down and cowered together. Her little feet she had drawn close up to her, but she grew colder and colder, and to go home she did not venture, for she had not sold any matches and could not bring a farthing of money: from her father she would certainly get blows, and at home it was cold too, for above her she had only the roof, through which the wind whistled, even though the largest cracks were stopped up with straw and rags.

Her little hands were almost numbed with cold. Oh! a match might afford her a world of comfort, if she only dared take a single one out of the bundle, draw it against the wall, and warm her fingers by it. She drew one out. “Rischt!” how it blazed, how it burnt! It was a warm, bright flame, like a candle, as she held her hands over it: it was a wonderful light. It seemed really to the little maiden as though she were sitting before a large iron stove, with burnished brass feet and a brass ornament at top. The fire burned with such blessed influence; it warmed so delightfully. The little girl had already stretched out her feet to warm them too; but–the small flame went out, the stove vanished: she had only the remains of the burnt-out match in her hand.

She rubbed another against the wall: it burned brightly, and where the light fell on the wall, there the wall became transparent like a veil, so that she could see into the room. On the table was spread a snow-white tablecloth; upon it was a splendid porcelain service, and the roast goose was steaming famously with its stuffing of apple and dried plums. And what was still more capital to behold was, the goose hopped down from the dish, reeled about on the floor with knife and fork in its breast, till it came up to the poor little girl; when–the match went out and nothing but the thick, cold, damp wall was left behind. She lighted another match. Now there she was sitting under the most magnificent Christmas tree: it was still larger, and more decorated than the one which she had seen through the glass door in the rich merchant’s house.

Thousands of lights were burning on the green branches, and gaily-colored pictures, such as she had seen in the shop-windows, looked down upon her. The little maiden stretched out her hands towards them when–the match went out. The lights of the Christmas tree rose higher and higher, she saw them now as stars in heaven; one fell down and formed a long trail of fire.

“Someone is just dead!” said the little girl; for her old grandmother, the only person who had loved her, and who was now no more, had told her, that when a star falls, a soul ascends to God.

She drew another match against the wall: it was again light, and in the lustre there stood the old grandmother, so bright and radiant, so mild, and with such an expression of love.

“Grandmother!” cried the little one. “Oh, take me with you! You go away when the match burns out; you vanish like the warm stove, like the delicious roast goose, and like the magnificent Christmas tree!” And she rubbed the whole bundle of matches quickly against the wall, for she wanted to be quite sure of keeping her grandmother near her. And the matches gave such a brilliant light that it was brighter than at noon-day: never formerly had the grandmother been so beautiful and so tall. She took the little maiden, on her arm, and both flew in brightness and in joy so high, so very high, and then above was neither cold, nor hunger, nor anxiety–they were with God.

But in the corner, at the cold hour of dawn, sat the poor girl, with rosy cheeks and with a smiling mouth, leaning against the wall–frozen to death on the last evening of the old year. Stiff and stark sat the child there with her matches, of which one bundle had been burnt. “She wanted to warm herself,” people said. No one had the slightest suspicion of what beautiful things she had seen; no one even dreamed of the splendor in which, with her grandmother she had entered on the joys of a new year.
Literature Network » Hans Christian Andersen » The Little Match Girl

Anh Hùng Đức Tin Martin Luther (1483-1546) Tác giả: Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

305 views

Như chúng ta đã biết, Hội thánh Chúa trước thế kỷ XV thỉnh thoảng có một vài cuộc phục hưng, có vài ba ngọn đuốc được thắp lên chiếu sáng cảnh trạng âm u của giáo hội. Thế nhưng, vài ba ngọn đuốc ấy chỉ lóe sáng rồi tắt đi để lại bóng tối tăm bao trùm Hội thánh Chúa.

Execution of Jan Hus, an important Reformation precursor, in 1415

Và rồi đến 100 năm sau, khi thời điểm đến, Thiên Chúa đã chuẩn bị một anh hùng đức tin để đứng lên khởi xướng một cuộc cách mạng tâm linh vĩ đại. Khi Martin Luther mở mắt chào đời vào ngày 10 November năm 1483 tại Đức quốc, giáo hội La mã Công giáo đã và đang trong thời kỳ suy đồi thuộc linh trầm trọng, giới tăng lữ tu sĩ với những tệ đoan mê tín, đa số giáo dân không được đọc Thánh Kinh, chỉ có hàng giáo phẩm đọc đến với ngôn ngữ La-tinh trong giờ hành lễ. Giáo hội đã quên lãng và không hề nói đến Phúc âm của Thiên Chúa. Giáo hội không giảng dạy về sự tha thứ tội như là món quà biếu tặng, không phải mất tiền mua, nhưng chỉ do nơi đức tin ta đặt nơi Đấng Christ. Giới lãnh đạo tôn giáo không bao giờ rao giảng Tin mừng này cho giáo dân, thay vào đó, hàng giáo dân chỉ được nghe rằng họ phải làm điều này, vâng giữ điều kia để được Thiên Chúa xưng nghĩa.

Đối với Martin Luther, ông đã có kinh nghiệm và tự thuật: Trong sự giáo huấn của giáo hội, ông cảm thấy một Thiên Chúa thịnh nộ chỉ có trừng phạt về tội lỗi. Từ thuở niên thiếu. Luther vốn là một trẻ sùng đạo và ước ao rằng về sau khi lớn lên mình sẽ là một linh mục. Ông nghĩ rằng nếu mình làm những điều thiện hão, nhiệt thành với tín ngưỡng và hành đạo trong giáo hội chắc chắn Thiên Chúa sẽ tiếp nhận mình. Dù ông đã cố gắng thực hành một nếp sống hành đạo như thế, ông vẫn có kinh nghiệm trong đời sống mình rằng tội lỗi vẫn tiếp tục khống chế dày vò, tâm hồn ông chưa hề có sự an bình thật. Thuở thiếu thời, khi còn ngồi ở ghế của bậc tiểu học, Luther đã được học giáo lý của giáo hội. Năm lên 13 tuổi, Luther đã được học ngôn ngữ La-tinh.

Martin Luther thời kỳ tu học

Năm 17 tuổi, Luther vào viện Đại học Erfurt. Là một sinh viên thông minh, thân phụ của Luther đã mong muốn con mình trở thành luật sư để có tiền bạc và danh vọng trong xã hội. Năm 1501, Luther được huấn luyện trong ngôi trường danh tiếng nhất tại Đức. Sinh viên theo học chương trình Cử nhân, trên một cấp là Master of Art (M.A.) với ba phân khoa: Luật, Y khoa và Thần học đã được xem là hoàng hậu của các bộ môn khoa học vào thời ấy. Các giáo sư dạy cấp này đều có Ph. D. Trường đòi hỏi sinh viên phải theo học các môn bắt buộc TRIVIUM: gồm có Grammar, Rhetoric, Dialectic (Biện chứng học) và Liberal Arts. QUADRIVIUM: Toán học, hình học, thiên văn học, âm nhạc. – Môn Grammar nhấn mạnh về văn chương cổ điển của các tác giả thời La mã cổ. – Môn Rhetoric nhấn mạnh mạnh đến nghệ thuật nói trước quần chúng, viết luận văn, thơ, luận dề Văn chương. – Môn học Dialectic rất quan trọng. Triết gia Aristotle cha của môn học này.

Lúc ấy, Luther đã được để ý đến về tài năng tranh luận. Tháng January 1505, Luther tốt nghiệp M.A. Khi Luther tiếp tục theo học ngành Luật, có nghĩa là một tương lai huy hoàng, giàu sang, quyền quí với một cánh cửa mở rộng về sau. Sáu tháng sau trong năm ấy, một buổi chiều kia, ông đi bộ từ Mansfeld về Erfurt , thình lình một trận cuồng phong nổi lên, một luồng sét đánh ngang qua, làm cho Luther ngả sấp xuống, trong nỗi kinh hoàng ấy, Luther buột miệng kêu lên: ‘Xin cứu giúp tôi, thánh An-ne, tôi sẽ trở nên một tu sĩ.’ Sau biến cố này, Luther thay đổi phân khoa. Ông bỏ ngành Luật khoa và muốn vào một tu viện. Lúc ấy, có nhiều dòng tu như : Benedictine, Dominican, Franciscan, nhưng ông đã chọn dòng Observant Augustinians.

Vào nhà dòng này, các tu sinh sống rất khắc khổ dưới một kỷ luật hãm xác. Trước tiên, Martin Luther phải trải qua một giai đoạn 30 ngày để được khảo sát về phần tâm linh, ông được khảo hạch tại sao lại muốn đi tu. Khi được nhà dòng chấp nhận lời hứa nguyện để trở nên một tu sinh, lúc hai giờ sáng, Luther và các đồng môn phải thức dậy để dự lễ nhất trong ngày, rồi tiếp theo có đến sáu lễ liên tiếp trong ngày, nhà dòng bắt buộc làm thế nhằm mục đích để phần hồn của các tu sinh không còn có khoảng trống nào xao lãng việc tu hành.

Dòng tu Augustinians buộc các tu sinh phải đi ra ngoài để làm một hành khất đi xin thực phẩm. Luther có một ngưòi giám sát để hướng dẫn, khích lệ trong đời sống tu hành. Về sau, Luther đã kể lại từng trải: ‘Nếu có bất cứ ai muốn lên thiên đàng như là tu sĩ thì tôi là người trong số ấy.’ Các tu sinh thuộc dòng tu này cạo tóc trên đầu. Đời sống trong tu viện rất khắc khổ: tu sinh kiêng ăn suốt một thời gian dài, về đêm dù bên ngoài thời tiết rét buốt nhưng họ không có áo ấm, mền.

Trong suốt những năm khổ tu, Luther mong mõi đi tìm tình yêu của Thiên Chúa với cả tấm lòng, cố công ra sức với một ý chí cương quyết, và muốn được thế, Luther quên đi những gì về trần tục, gia đình và chính con người mình. Tháng 5, 1507, Luther cử hành lễ Mi-sa đầu tiên. Năm 27 tuổi, ông đã được tuyển chọn đi Rome, đây là chuyến hành hương để đi gặp Pope. Khi đặt chân đến Vatican, Luther sấp mình xuống kêu lên: ‘Thành thánh La-mã, ôi thật phước hạnh biết bao!’ Cũng có nhiều linh mục khác từ bốn phương cùng đi hành hương tại La-mã và ai cũng muốn được vào giáo đường dâng lễ Mi-sa. Trải qua nhiều thứ Bảy, dù Luther muốn nhưng vẫn chưa có cơ hội, vì số linh mục đông quá! Luther đã viết lại: ‘Tôi chạy đến khắp nơi trong Nhà Nguyện, các bậc thang, khắp mọi nơi như một ông ‘thánh mad dây’, tôi chìm đắm trong giáo lý của Pope rằng tôi có thể giết người . . . để vâng phục Pope.’

Lutherhaus, Luther’s residence in WittenbergLutherhaus, Luther’s residence in WittenbergLutherhaus, Luther’s residence in WittenbergLutherhaus, Luther’s residence in WittenbergLutherhaus, Luther’s residence in Wittenberg

Lutherhaus, Luther’s residence in Wittenberg

Năm 1512, lúc 29 tuổi, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học tại Đại Chủng viện Wittenberg. Về sau, ông dạy các môn Sáng-thế-ký, Thi-Thiên, Rô-ma, Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ (1512-1 517) tại viện Thần học này. 95 Luận Đề Ngày 31-10-1517 Thời Trung cổ, trong Giáo hội La-mã Công giáo, sự giảng dạy mua bán bùa xá tội là phần chính yếu. Vatican dạy rằng thánh lễ Báp-têm (lễ rửa tội) là tẩy rửa tội tổ tông, giáo dân cần phải làm nhiều nhiều điều để được cứu rỗi … Khi giáo dân qua đời thì linh hồn họ phải vào Ngục Luyện tội (Purgatory) tội Iỗi họ được lưu giữ trong hồ sơ của họ, linh hồn họ phải ở trong ngục luyện tội trước khi linh hồn họ được mang đến thánh Phê-rô và Đấng Christ tại cửa thiên đàng. Muốn được xá miển tội, trước khi chết,họ phải được giáo hội tha thứ hình phạt và giải thoát họ ra khỏi ngục luyện tội, bằng không họ cứ phải ở trong nơi đó đế sám hối. Trong ngục này, linh hồn giáo dân bị đau đớn khổ sở vô cùng và cách xa với thân nhân. Vì thế, bùa xá miển tội thật vô cùng đặc biệt để tẩy rửa tội của họ. Sự thực hành giáo lý này được truyền bá rộng rãi trong giáo hội vào cuối thời đại Trung co.

Linh mục Johann Tetzel, người Đức, đi khắp nơi với đoàn quân lính hộ tống, ông có trang phục và huy hiệu của Giáo hoàng Leo X cấp phát . Các kỵ binh đi trước, có trống, kèn báo tin cho giáo dân biết. Trên một thập tự giá có ghi bảng giá tiền của bùa xá miển tội để mọi người nhìn thấy. Linh mục Tetzel bước lên bục cao của giảng đài và nói: ‘Quí vị có nghe tiếng van xin của thân nhân và cầu khẩn, ‘hãy thương xót chúng tôi, chúng tôi bị trừng phạt đau đớn, xin cứu giúp tôi ra khỏi nơi này.’ Quí vị có thể bỏ ra những đồng tiền để nhận các chứng chỉ xá miển tội hầu mang linh hồn chúng tôi lên thiên đàng sớm.’ Linh mục Tetzel nói tiếp: ’Khi nào đồng tiền rơi xuống đáy thùng, linh hồn của thân nhân quí vị sẽ siêu thoát, từ ngục luyện tội bay thằng lên thiên đàng.’

95 Luận đề (Theses) nay được đúc bằng chữ đồng tại cửa giáo đường

Ngày 31-10-1517, Martin Luther đóng vào cửa giáo đường Wittenberg 95 Luận đề (Theses) chống lại việc buôn bán bùa xá miển tội. Những luận để này đã được viết bằng La-tinh ngữ, về sau đã được dịch sang Đức ngữ. Martin Luther là một linh mục, giáo sư tiến sĩ dạy tại trường đại học, ông thông thạo các ngôn ngữ Hi-lạp, La-tinh, Hebrew. Martin Luther tuyên bố: ‘Bất cứ ai nghĩ và muốn rằng mình được cứu rỗi là do bùa xá tội thì sẽ bị hư mất cũng như các giáo sư của họ. Bất cứ ai là tín hữu thật, dù sống hay qua đời họ đều được dự phần trong ơn cứu rỗi bởi Thiên Chúa, chứ không do bất cứ một chữ nào của bùa xá tội.’ Khi học và nghiên cứu về các thư tín Ga-la-ti, Hê-bơ-rơ, Rô-ma, Martin Luther nhận thấy rằng địa vị của con người trước Thiên Chúa được cứu rỗi không do nơi việc làm tốt, thiện mà được xưng nghĩa, dù cố công ra sức làm việc lành. Duy chỉ có sự nhân từ, tình yêu, ân phúc của Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Jesus Christ, và bởi đức tin nơi Ngài.

Martin Luther bắt đầu giảng dạy rằng con người được cứu rỗi không bởi việc làm tốt nhưng bởi ân phúc của Thiên Chúa hay phải dùng tiền mà mua. Vì sự giảng dạy của Martin Luther, việc bán bùa xá miển tội của hàng tăng lữ đã bị mất đi mối lợi, khi giáo dân đã được nghe đến lời chân lý trong Thánh Kinh. Vatican cáo buộc Luther đã rao giảng điều sai lạc, họ đòi Luther phải đối chất tranh biện với hàng giáo phẩm La-mã Công giáo, họ ép buộc Luther phải từ khước tất cả những lời ông đã giảng dạy. Tuy nhiên, Luther vẫn can đảm giữ nguyên và ông cứ tiếp tục truyền giảng lời chân lý, giáo hội đã phản ứng mạnh mẽ và ban hành lệnh ‘dứt phép thông công’ vào đầu năm 1521.

Hoàng đế Charles V vâng lệnh giáo hội và ra lệnh truy nã Luther. Nếu bị bắt, Luther sẽ bị kết án tử. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng các thân hữu của Luther, và họ đã tổ chức cuộc phục kích và ‘bắt cóc’ Martin Luther mang về một lâu đài ở Wartburg.

 Wartburg Castle, EisenachWartburg Castle, EisenachWartburg Castle, Eisenach

Wartburg Castle, EisenachWartburg Castle,

Tại đây, trong nhiều năm, Luther đã được an toàn để dịch Thánh Kinh sang Đức ngữ để rồi sau này, giáo dân đã được đọc Thánh Kinh bằng ngôn ngữ tiếng mẹ.

The Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the desk

The Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German. An original first edition is kept in the case on the deskThe Wartburg room where Luther translated the New Testament into German.

Năm 1546, Martin Luther an nghỉ trong Nước Chúa. Những tín hữu theo giáo lý và sự giảng dạy của Martin Luther đưọc gọi là ‘Lutherans.’ Giáo hội Lutheran lan rộng sang các quốc gia Âu châu, có ảnh hưởng sâu rộng tại Anh, Tô-cách-lan. Có những nhà truyền giáo Lutheran đến Scandianavia, Phi châu, thế giới thứ ba, và Hoa kỳ.

Phong Trào Cải Chánh Thế Kỷ XVI – Ngy. Uyên

312 views

Phong Trào Cải Chánh Thế Kỷ XVI

Là một sinh viên thần học rất xuất sắc:

– Trở thành tu sĩ và được thụ phong Linh mục năm 1507
– Nhanh chóng đỗ bằng Tiến sĩ Thần khoa
– Được bổ nhiem làm Giáo sư tại Đại học Wittenberg.

Martin Luther sinh ngày 10-11-1483. Lớn lên theo học trường đại học danh tiếng Erfurt tại Đức quốc, năm 1501, sau khi tốt nghiệp cử nhân. Năm 1505, ông tốt nghiệp Cao học nhưng sau đó ông vào tu viện Augustinians. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục.

Năm 1512, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học và được mời dạy tại Đại Chủng viện Wittenberg. Trong thời đại Trung cổ, giáo hội đang trên đà suy đồi tâm linh trầm trọng, giới tăng lữ với nhiều mê tín dị đoan như bán bùa xá tội, giáo dân thì không đượcc đọc Thánh Kinh, chỉ có hàng giáo phẩm đọc Thánh Kinh với tiếng La-tinh trong giờ hành lễ. Khi Martin Luther đọc và nghiên cứu trong Thánh Kinh thì ông nhận thấy rằng địa vị của con người trước Thiên Chúa được cứu rỗi không do nơi việc làm tốt, thiện mà được xưng nghĩa, dù cố công ra sức làm việc lành.

Duy chỉ có lòng nhân từ, tình yêu, ân phúc của Thiên Chúa ban cho qua Chúa Jêsus Christ, và bởi đức tin của chúng ta đặt nơi Ngài. Ngày 31-10-1517, Martin Luther đóng vào cửa giáo đường Wittenberg 95 Luận đề (Theses) chống lại việc buôn bán bùa xá miển tội. Những luận đề này đã được viết bằng La-tinh ngữ, về sau đã được dịch sang Đức ngữ.

Martin Luther bắt đầu giảng dạy rằng con người được cứu rỗi không bởi việc làm tốt nhưng bởi ân phúc của Thiên Chúa, chứ không phải dùng tiền mà mua. Vì sự giảng dạy của Martin Luther, việc bán bùa xá miển tội của hàng tăng lữ đã bị mất đi mối lợi, khi giáo dân đã được nghe đến lời chân lý trong Thánh Kinh. Vatican cáo buộc Luther đã rao giảng điều sai lạc, và đòi Luther phải đối chất tranh biện với hàng giáo phẩm La-mã Công giáo, họ ép buộc Luther phải rút lại tất cả những lời ông đã giảng dạy. Tuy nhiên, Luther vẫn can đảm tiếp tục truyền giảng lời chân lý. Giáo hội La-mã Công giáo đã phản ứng mạnh mẽ, kết án ông là ‘dị giáo’ ‘tà đạo’ và ra lệnh ‘dứt phép thông công’ vào đầu năm 1521. Hoàng đế Charles V vâng lệnh giáo hội và ra lệnh truy nã Luther. Nếu bị bắt, Luther sẽ bị kết án tử hình. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng các thân hữu của Luther, và họ đã tổ chức cuộc phục kích và ‘bắt cóc’ Martin Luther mang về một lâu đài ở Wartburg.

Thánh Kinh Đức ngữ do Martin Luther dịch

Tại đây, trong nhiều năm, Luther đã được an toàn để dịch Thánh Kinh sang Đức ngữ để rồi sau này, giáo dân đã được đọc Thánh Kinh bằng ngôn ngữ tiếng mẹ. Chúng ta vừa nói đến nguyên nhân của Phong trào Cải chánh Giáo hội, thoạt đầu, Tiến sĩ Martin Luther chỉ muốn gióng lên tiếng nói để giáo hội Công giáo La-mã quay trở về với nền tảng của đức tin dựa trên Thánh Kinh chứ không có ý muốn lập một giáo hội khác. Tuy nhiên, Giáo hội La-mã Công giáo đã lên án tử hình và nếu Thiên Chúa không gìn giữ thì ông phải mất mạng sống rồi. Từ đó, phong trào cải chánh trở về với Phúc âm của thế kỷ thứ nhất đã lan rộng và tạo nên một hậu quả là giáo dân được hiểu biết lời chân lý từ trong Thánh Kinh. Những tín hữu theo giáo lý và sự giảng dạy của Martin Luther được gọi là ‘Lutherans.’

Đến cuối thế kỷ 15, Giáo Hội Tin lành Lutheran tại Đức là cái nôi của Phong trào Cải Chánh Giáo hội nhanh chóng lan rộng đến các quốc gia thuộc vùng SCANDINAVI , tạo ảnh hưởng sâu rộng cho cả Âu châu. Các quốc gia Bắc Âu nhận Lutheran là quốc giáo như Na-uy, Thụy Điển, Đan-mạch, Phần lan, các quốc gia vùng Baltic như Estonia, Latvia, Lithuania, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo gia Lợi, Thụy sĩ. Phong trào cải chánh phát triển càng ngày càng lớn mạnh, nhiều Giáo đoàn  tại Âu châu đã hân hoan đón nhận giáo lý thuần chánh của Tiến sĩ Martin Luther, đồng thời các nhà cải cách khác như John Calvin tại Pháp, Zwingli tại Thụy sĩ rời Giáo Hội Công giáo La-mã, gia nhập phong trào cải chánh và đồng tuyên bố trở về với Tin Lành nguyên thủy trong Thế kỷ thứ nhất. Tại Đức có Giáo hội Evangelical Lutheran.

Ngoài việc phiên dịch Kinh Thánh từ ngôn ngữ Hê-bơ-rơ, Hi-lạp, La-tinh sang Đức ngữ, Tiến sĩ Martin Luther đã xuất bản khoảng 400 tác phẩm, gồm những bài giải nghĩa Kinh Thánh, Giáo lý Căn bản, nhiều sách thần học làm nền tảng cho sự tổ chức giáo hội. Tiến sĩ Luther sáng tác nhiều thánh ca nổi tiếng. Ông về an nghỉ nơi Nước Chúa năm 1546, hưởng thọ 63 tuổi. Giáo hội Lutheran lan rộng sang các quốc gia Âu châu, Đan mạch, Thụy Điển, Na-uy có ảnh hưởng sâu rộng tại Anh, Tô-cách-lan. Có những nhà truyền giáo Lutheran đến Scandianavia, Phi châu, thế giới thứ ba, và Hoa kỳ.

Đầu thế kỷ 16, những đoàn người thuộc Giáo Hội Tin Lành Lutheran từ Đức di dân đến Mỹ Quốc. Tiếp theo sau là những tín hữu Lutheran từ Đan-mạch và Bắc Âu đến Hoa Kỳ qua những đợt di dân. Hiện nay có khoảng 9 triệu tín hữu Tin Lành Lutheran tại Hoa Kỳ.

A stained glass portrayal of Luther