Martin Luther – Người Thay Đổi Thời Đại – Ngy.Uyên Hiệu Đính

256 views

Martin Luther – Người Thay Đổi Thời Đại
Thời Niên Thiếu

Martin Luther sinh ngày 10 tháng 11 năm 1483 tại Eisleben, Đế quốc La Mã Thần thánh (nay thuộc lãnh thổ nước Đức), con của Hans và Margaretha Luther. Cậu bé được báp-têm (baptized) vào ngày lễ thánh Martin nên được đặt tên theo vị thánh này. Thân phụ của Martin sở hữu một mỏ đồng gần Mansfeld. Xuất thân từ giới nông dân, Hans quyết tâm muốn con trai của mình thành một công chức và gởi chàng Martin trẻ tuổi đến học tại các trường ở Mansfeld, Magdeburg và Eisenach.

Năm 1501, vào tuổi 17, Martin Luther đến học tại Đại học Erfurt, tốt nghiệp cử nhân năm 1502, và sau đó là cao học (M.A.) năm 1505. Chìu theo ước muốn của cha, Martin theo học luật cũng tại Đại học Erfurt. Song vì Luther khao khát tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống, Luther bị thu hút bởi thần học và triết học, đặc biệt thích Aristotle. Cậu cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm từ hai nhà phụ giáo, Bartholomäus Arnoldi von Usingen và Jodocus Trufetter, từ hai vị thầy này, Luther học biết cách tra hỏi mọi điều, ngay cả những nhà tư tưởng vĩ đại nhất, và kiểm soát mọi sự qua kinh nghiệm của chính mình.

Nhưng mọi sự đã thay đổi khi Martin Luther bị mắc kẹt trong một cơn giông bão với sấm sét vào mùa hè năm 1505. Trong nỗi kinh hoàng ấy, Martin Luther đã cầu Thánh Anne giải cứu và hứa nguyện trở thành tu sĩ.  Luther bỏ trường luật, bán hết sách vở, ngày 17 tháng 7 năm 1505, ông vào dòng tu kín Augustine tại Erfurt. Thân phụ, Hans Luther rất giận vì hành động này của con trai mình.

Martin Luther cúc cung hiến mình cho cuộc sống khổ hạnh tại tu viện, tận tụy làm mọi việc lành để mong Thiên Chúa vui lòng, ông phục vụ người khác bằng cách cầu nguyện cho sự cứu rỗi linh hồn của họ. Luther thường xuyên kiêng ăn, tự hành xác, dành nhiều thì giờ để cầu nguyện cũng như đi hành hương và thường xuyên xưng tội. Nhưng dù cho Luther nỗ lực càng nhiều thì ông càng cảm thấy mình tội lỗi nhiều hơn.

Sau chuyến hành hương đến Rôma năm 1511, khi trở về Đức quốc, Luther càng chìm sâu trong tuyệt vọng. Ông cảm nhận sâu sắc về tội lỗi và tình trạng bất xứng của mình, nhưng cùng lúc ông thấy mù mịt vì không tìm ra lối thoát. Lòng sùng tín theo kiểu cách thời Trung Cổ trở thành nỗi niềm cay đắng cho Luther, ông bỏ lễ Misa và ngưng đọc kinh. Ông giận Thiên Chúa và oán hận Ngài. Luther mô tả giai đoạn này là tràn đầy sự thất vọng tâm linh. Ông nói, “Tôi không chịu đến với Chúa Ki-tô như là Cứu Chúa và Đấng An ủi, nhưng tôi đã xem Ngài như là cai tù và đao phủ của linh hồn tôi.

Linh mục bề trên của Martin Luther, Johann von Staupitz, tin rằng chàng tu sĩ trẻ tuổi cần được giải thoát khỏi trạng thái trầm tư u uất, ông ra lệnh cho Martin chú tâm vào sự nghiên cứu học thuật. Năm 1507, ông được thụ phong linh mục. Năm 1508, ông bắt đầu dạy thần học tại Đại học Wittenberg. Ông tốt nghiệp cử nhân về nghiên cứu Kinh Thánh năm 1508 và cử nhân tu từ học (môn học bắt buộc cho ngành thần học vào thời Trung Cổ) vào năm 1509. Đại học Wittenberg cấp bằng tiến sĩ thần học cho ông năm 1512.

Khám phá Ân sủng của Thiên Chúa

Những yêu cầu trong thời gian học tập cũng như khi chuẩn bị giáo trình giảng dạy sau này đã dẫn Martin Luther vào việc nghiên cứu Kinh Thánh. Chịu ảnh hưởng học thuyết nhân văn (humanism) phải đi đến tận gốc rễ của vấn đề đang nghiên cứu, ông đắm mình trong lời dạy của Kinh Thánh và các giáo phụ.

Martin Luther kể lại rằng bước đột phá đặc biệt đến với ông vào năm 1513, lúc đang giảng dạy sách Thi thiên (Thánh vịnh). Khi đang chuẩn bị bài giảng cho học kỳ sắp tới, ông gặp trong Thi thiên 31: 1, “Xin hãy lấy sự công chính Ngài mà giải cứu tôi”. Đây là một câu Kinh Văn quen thuộc nhưng vào thời điểm ấy nó đến với Luther như một vết dao cắt. Ông cảm thấy sự công chính của Thiên Chúa thật đáng kinh khiếp: luôn nhắc nhở ông về tội lỗi của mình, khiến ông nghĩ về Chúa như một Đấng nghiêm khắc, ra tay đoán phạt con người dựa trên tiêu chuẩn công chính mà con người không bao giờ với tới.

Luther quay sang những luận giải của Phao-lô chép trong thư tín La Mã 3: 23-24 để thấy mình bị cuốn hút vào tình trạng căng thẳng và tuyệt vọng. Đức tin đặt vào Chúa Ki-tô càng nâng cao những chuẩn mực đạo đức của Thiên Chúa, theo cách hiểu của Luther vào lúc ấy, là Đấng sẵn sàng ra tay trừng phạt con người đang đắm chìm trong tội lỗi. Trong nhiều ngày, Luther cố gắng tìm kiếm những câu chữ của Phao-lô hầu có thể tìm thấy ý nghĩa chính xác của Kinh Văn, cho đến khi ánh sáng soi rọi tâm trí ông để nhận ra rằng sự công chính của Thiên Chúa không phải là động lực thúc đẩy Ngài trừng phạt tội nhân, nhưng đấy là sự công chính dẫn đến sự tha thứ tội lỗi, bởi đó chúng ta được xưng công chính trước mặt Thiên Chúa do ơn thương xót của Ngài thể hiện qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu Ki-tô. Chỉ bởi đức tin mà chúng ta được xưng công chính. Sự xưng công chính ấy là sự ban cho từ Thiên Chúa, không phải bởi công đức của chúng ta.

Ông nhận ra rằng mệnh đề “sự công chính của Thiên Chúa” trong La Mã 1: 17 không có nghĩa là sự công chính chủ động, theo đó con người được xưng công chính bởi Thiên Chúa dựa trên công đức của chính họ, nhưng là sự công chính thụ động, theo đó con người nhận lãnh sự công chính từ Thiên Chúa qua công đức trọn vẹn, sự sống, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu. Chỉ bởi sự công chính này mà con người mới được Thiên Chúa chấp nhận. Những thuật ngữ như sám hối và công chính chỉ nên được hiểu theo nghĩa ấy. Càng nghiên cứu Kinh Thánh, Martin Luther càng tin rằng giáo hội đã đánh mất khả năng nhận biết những chân lý cốt lõi này. Và đối với Luther, quan trọng hơn hết thảy là tín lý được xưng công chính chỉ bởi đức tin. Ông viết, “Vầng đá nền vững chãi này mà chúng ta gọi là giáo lý xưng công chính, là trọng tâm của toàn bộ nền thần học Cơ Đốc mà mỗi người yêu kính Thiên Chúa cần phải thấu suốt.”

Luther hiểu rằng sự xưng công chính hoàn toàn là công việc của Thiên Chúa. Trái với giáo huấn thời đó dạy rằng hành vi công chính của tín hữu là những hành động cùng thực thi với sự hợp tác của Thiên Chúa, Luther viết rằng tín hữu nhận lãnh sự công chính như một sự ban cho, không phải tự mình cố công ra sức; sự công chính không chỉ đến từ Chúa Ki-tô, nhưng đó chính là sự công chính của Ngài, và Ngài dành cho chúng ta khi chúng ta lấy đức tin để nhận lãnh.[25] “Đó là lý do tại sao chỉ có đức tin mới có thể khiến chúng ta trở nên công chính và làm trọn luật pháp”, Luther viết. “Đức tin khiến chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Linh qua công đức của Chúa Cơ Đốc.” Đức tin, theo Luther, là món quà đến từ Thiên Chúa. Ông luận giải về sự xưng công chính:

“Trước tiên và quan trọng hơn hết: Chúa Giê-xu, Thiên Chúa và Chúa của chúng ta, đã chết vì tội lỗi chúng ta, đã sống lại để chúng ta được xưng công chính (La Mã 3: 24, 25. Chỉ mình Ngài là Chiên con của Thiên Chúa, là Đấng cất bỏ tội lỗi của thế gian (Phúc âm John 1:29), và Thiên Chúa đặt trên Ngài mọi sự vi phạm của chúng ta (Isaiah 53:6). Chúng ta đều đã phạm tội, và được xưng công chính, không phải bởi công đức và việc làm của mình, bèn là bởi ân điển của Chúa, qua sự cứu chuộc trong Chúa Giê-xu, trong huyết Ngài (La Mã 3: 23-25). Đây là điều cần thiết cho đức tin. Không thể đạt được điều này qua việc làm hay công đức. Như vậy, thật rõ ràng và chắc chắn rằng chúng ta được xưng công chính chỉ bởi đức tin…. Chúng ta không được xem nhẹ hay chối bỏ những tín lý này, ngay cả khi trời, đất và mọi sự đều qua đi.”

Với niềm vui tìm ra chân lý, Martin Luther khởi sự giảng dạy lẽ thật rằng cứu rỗi là sự ban cho bởi ân điển của Thiên Chúa, được nhận lãnh bởi đức tin và lòng tin cậy vào lời hứa của Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, dựa trên sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá.

Tranh luận về phép giải tội

Lần đầu tiên Martin Luther công khai thách thức quyền lực của giáo hoàng là vào năm 1517, về việc bán bùa xá tội (indulgence). Câu hỏi được đặt ra là liệu giáo hoàng (hoặc bất kỳ ai khác ngoài Chúa Ki-tô) có quyền lực hoặc thẩm quyền xử dụng công đức của Chúa Giê-xu và các thánh để cứu những người đang bị giam trong ngục luyện tội (purgatory) hay không?

Luther không hài lòng việc bán bùa xá tội, ông tin rằng bùa xá tội chẳng có ích lợi gì cho việc cứu rỗi linh hồn ngoài mục đích làm đầy túi các chức sắc giáo hội. Ông cũng tin rằng việc mua bán bùa xá tội sẽ khuyến khích phạm tội vì khiến người ta tin rằng có thể dùng tiền mua được sự xá tội. Ông cũng hành hương đến La Mã vào năm 1510 nhưng chỉ để cảm thấy ghê tởm nơi chốn ấy, theo Luther, đầy dẫy sự tham lam và thối nát.

Năm 1517, Tổng Giám mục Magdeburg và Halberstadt, Albert von Hohenzollern, muốn có thêm tước vị tổng giám mục Mainz (tước vị này mang lại nhiều lợi lộc và quyền lực của một vương hầu), nhưng theo luật giáo hội không ai có thể cai quản cùng lúc hai giáo phận. Tuy nhiên, vì cần tiền để xây dựng Đại Giáo đường Thánh Peter, Giáo hoàng Leo X cho phép Tổng Giá mục Albert nhận lãnh tước vị sau khi nộp tiền phạt vì vi phạm giáo luật. Vì phải vay mượn để nộp phạt nên Albert được phép bán bùa xá tội để có tiền trả nợ. Một tu sĩ Dòng Dominican tên Johann Tetzel được sai đi khắp giáo phận của Albert bán bùa xá tội, và Tetzel đã rất thành công trong công việc được giao phó. Frederick Hiền nhân, Vương hầu xứ Saxony, sở hữu một bộ sưu tập lớn các thánh tích. Bộ sưu tập này thu hút đông người đến chiêm ngưỡng vào ngày lễ Các thánh. Nhân dịp này Tetzel cũng đến Wittenberg để bán phép giải tội.

Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Luther viết thư cho Albrecht, Tổng Giám mục Mainz và Magdeburg, phản đối việc bán bùa xá tội, đính kèm một bản sao Tiểu luận “Tranh luận của Martin Luther về Quyền năng và Hiệu lực của Phép Giải tội’, được biết đến dưới tên 95 Luận đề. Hans Hillerbrand viết rằng Luther không có ý định đối đầu với giáo hội, nhưng xem cuộc tranh luận là một sự phản biện về học thuật đối với các tập tục của giáo hội, văn phong của ông thể hiện chủ tâm “tra cứu hơn là lập thuyết.”

Luther bắt đầu thuyết giảng bác bỏ phép giải tội, ông treo 95 “Luận đề” tại cửa nhà thờ của lâu đài Wittenberg (nơi treo các thông báo của viện đại học), theo thông lệ vào thời ấy, nhằm mở ra cuộc tranh luận về phép giải tội. Những luận đề của Luther tố cáo sự tham lam và tinh thần thế tục đang phổ biến trong giáo hội (thể hiện qua việc bán bùa xá tội), và yêu cầu mở ra tranh luận về thần học. Ngay tức khắc các luận đề này được dịch từ tiếng Latin sang tiếng Đức, được in ra và phổ biến. Đây là cuộc tranh luận đầu tiên trong lịch sử có sự hỗ trợ của máy in. Chỉ trong vòng hai tuần lễ chúng đã được phổ biến rộng rãi trên toàn nước Đức, và chỉ trong hai tháng chúng được tìm thấy trên toàn lãnh thổ châu Âu.

Phản Ứng Của Giáo Hoàng

Sau khi tỏ ra xem thường “gã người Đức viết các luận đề khi say rượu, khi tỉnh ra anh ta sẽ đổi ý”, Giáo hoàng Leo X vào năm 1518 chỉ thị Silvester Mazzolini, giáo sư thần học Dòng Dominican, xem xét vấn đề này. Nhận thấy Luther là một mối nguy hiểm, Mazzolini công bố Martin Luther là kẻ dị giáo và viết một bài phản bác các luận đề nhằm khẳng định thẩm quyền của giáo hoàng trên giáo hội Công giáo và khuyến cáo bất cứ sự chệch hướng nào cũng bị coi là dị giáo.

Khi đang tham dự một hội nghị của Dòng Augustine tại Heidelberg, Martin Luther nhận được lệnh triệu tập đến La Mã. Trong khi vẫn tỏ ý trung thành với giáo hội, ông bắt đầu bác bỏ quyền lực tuyệt đối của giáo hoàng.

Vì muốn giữ sự hòa hảo với Vương hầu Frederick, người có khả năng được bầu chọn làm hoàng đế cho Đế quốc La Mã Thần thánh và đang tỏ ra muốn bảo vệ Martin Luther, Giáo hoàng chọn giải pháp ôn hòa nhằm thuyết phục Martin Luther ngưng đả kích giáo hội, hãy viết thư tỏ ý thuận phục giáo hoàng và soạn một luận văn nhằm tôn vinh Giáo hội La Mã. Bức thư được viết nhưng không được gởi đi vì Martin Luther vẫn giữ nguyên chính kiến, sau này ông cũng viết một luận văn nhưng nhằm mục đích bác bỏ mọi linh nghiệm của phép giải tội.

Cùng với một người bạn, Carlstadt, Martin Luther tham dự cuộc tranh luận với John Eck tại Leizpig từ 27 tháng 6 – đến 18 tháng 7 năm 1519. Tại đây, ông đã bác bỏ quyền lực tối thượng của ngai giáo hoàng, cho rằng “quyền cầm giữ chìa khoá nước Trời” là được ban cho toàn thể Hội thánh (nghĩa là cho tất cả tín hữu), ông cũng khẳng định rằng Giáo hội La Mã không giữ vai trò ưu việt nào trong sự cứu rỗi.

Trong khi đó, các tác phẩm của Martin Luther ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn, lan truyền đến Pháp, Anh, và Ý vào đầu năm 1519. Nhiều sinh viên tìm đến Wittenberg để nghe các bài thuyết giảng của Martin Luther và Philipp Melancthon. Năm 1518, Melancthon tìm đến để cộng tác với Luther.

Trong thư gửi giới Quí tộc Đức, ấn hành vào tháng Tám năm 1520, Luther tin rằng cuộc cải cách đến từ ý muốn của Thiên Chúa nhưng đã bị khước từ bởi giáo hoàng và giới tăng lữ, ông cũng kêu gọi cải cách nhiều lãnh vực từ trong giáo hội ra ngoài xã hội. Trong tác phẩm “Đường dẫn đến sự Lưu đày tại Babylon của Giáo hội”, ông luận bàn về các thánh lễ, bác bỏ chủ nghĩa hình thức trong cử hành các thánh lễ và, theo ông, chỉ có Tiệc Thánh và Báp têm nên được kể là thánh lễ.

Ngày 15 tháng 6 năm 1520, Giáo hoàng Leo X cảnh cáo Luther (chiếu chỉ Exsurge Domine) có thể bị dứt phép thông công nếu trong vòng 60 ngày không chịu rút lại 41 câu, trong đó có 95 luận đề.
Sau khi thẳng thừng khước từ vâng phục mệnh lệnh của giáo hoàng, ngày 3 tháng 1 năm 1521, Martin Luther bị khai trừ khỏi giáo hội.

Nghị Viện Worms

Hoàng đế La Mã Thần thánh là Karl V khai mạc Nghị viện của Đế chế tại Worms ngày 22 tháng 1 năm 1521. Martin Luther được triệu tập để xác định lập trường của mình trước hoàng đế và nghị viện. Ông được hoàng đế cam kết bảo vệ an toàn trong thời gian này.

Tại đây, John Eck, trong tư cách là phát ngôn nhân của hoàng đế, đối diện Luther với câu hỏi: “Ông có đồng ý bác bỏ các cuốn sách của ông cùng những điều lầm lạc được chép ở trong?” Câu trả lời của Luther: “Trừ khi được thuyết phục bởi Thánh Kinh – tôi không công nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và các công đồng vì họ tự mâu thuẫn với nhau – lương tâm của tôi chỉ thuận phục Lời của Thiên Chúa, bởi vì chống lại lương tâm thì không đúng và cũng không an toàn”.

Trong năm ngày kế tiếp, các phiên họp kín được triệu tập để quyết định số phận của Luther. Ngày 25 tháng 5 năm 1521, Hoàng đế trình bày bản thảo Chiếu chỉ Worms tuyên bố Luther bị đặt ngoài vòng pháp luật, cấm các tác phẩm của ông, và yêu cầu bắt giữ ông, “Ta muốn bắt giữ và trừng phạt hắn như là một tên dị giáo xấu xa.” Chiếu chỉ kể là tội phạm bất cứ ai chứa chấp hoặc cấp dưỡng cho Luther, và cho phép mọi người giết Luther mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Ẩn náu tại lâu đài Wartburg

Câu chuyện Martin Luther mất tích trên đường về là một phần trong kế hoạch của Vương hầu Frederick nhằm bảo vệ ông. Một nhóm gồm năm kỵ sĩ bịt mặt chận bắt Martin Luther khi ông vừa rời khỏi Nghị viện Worms và đưa ông về lâu đài Wartburg. Tại đây ông phải mặc trang phục hiệp sĩ, để râu dài và được gọi với tên Junker Jorg (Hiệp sĩ George). Trong thời gian sống ẩn dật, Luther vẫn chuyên cần liên tục làm việc. Tại đây, ông bắt đầu dịch Thánh Kinh sang tiếng Đức. Bản Tân Ước nổi tiếng được ấn hành năm 1522.

Trong khi đó, các thành phần cực đoan bắt đầu gây dựng thanh thế bên trong phong trào cải cách, và đặt phong trào còn non trẻ này vào nguy cơ bị dẫn đi lệch hướng khỏi tôn chỉ ban đầu, đặc biệt là khi những người Anabaptist đến từ Zwickau gia nhập nhóm này để đẩy nhanh tình trạng hỗn loạn vốn đã bộc phát từ khi Luther vắng mặt.

Bất đồng với quan điểm cực đoan của nhóm này và rất lo lắng về những hậu họa do họ gây ra, ngày 6 tháng 3 năm 1522, Luther bí mật trở về Wittenberg. “Trong khi tôi vắng mặt,” ông viết cho Vương hầu Frederick, “Satan đã đột nhập vào bầy chiên, gây biết bao tàn hại mà tôi không thể nào cứu chữa được nếu chỉ bằng thư tín, tình thế đòi hỏi phải có sự hiện diện và tiếng nói của tôi.”

Trở Lại Wittenberg

Trong vòng tám ngày trong Tuần thánh, khởi đi từ Chúa nhật ngày 9 tháng 3 và kết thúc vào Chúa nhật sau, Luther đã giảng tám lần. Trong tám bài giảng này, ông dẫn dắt thính giả vào tâm điểm của những giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo như tình yêu thương, đức nhẫn nại, bác ái, và sự tự do, cũng như nhắc nhở họ cần phải tin cậy Lời Thiên Chúa thay vì dùng bạo lực để tiến hành những cải cách cần thiết. Ông nói,

“Các bạn có biết ma quỉ nghĩ gì khi nhìn thấy chúng ta xử dụng bạo lực để truyền bá phúc âm? Đằng sau những đám lửa hỏa ngục, ma quỉ ngồi khoanh tay, đôi mắt hiểm độc và nụ cười ghê rợn, rít lên rằng, “À, những tên điên khùng này đang làm đúng ý ta! Cứ để chúng tiếp tục, rồi ta sẽ hưởng lợi. Thật vui thích biết bao.” Nhưng khi ma quỉ nhìn thấy Lời Thiên Chúa được rao giảng và hiển lộ quyền năng, ma quỉ sẽ co rúm lại và run rẩy vì khiếp sợ.”
Kinh Thánh Tiếng Đức

Việc Martin Luther dịch Tân Ước ra tiếng Đức giúp người dân thường dễ gần gũi với Kinh Thánh, đồng thời làm suy giảm ảnh hưởng của giới tăng lữ. Ông đã dùng Thánh Kinh Hi Lạp văn của Erasmus để dịch. Trong thời gian dịch Thánh Kinh, ông thường đến các thị trấn lận cận, và vào các ngôi chợ để lắng nghe người dân nói chuyện với nhau hầu có thể đưa ngôn ngữ đại chúng vào bản dịch của ông.

Tận dụng thời gian nhàn rỗi khi đang ẩn náu tại Lâu đài Wartburg, năm 1521 Luther một mình khởi sự dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức. Theo Philip Schaff, nhà thần học thế kỷ 19, chỉ riêng công trình này cũng đủ để Luther được công nhận là một trong số những người đóng góp nhiều nhất cho các dân tộc nói tiếng Đức.

Bản dịch Tân Ước của Luther xuất bản vào tháng 9 năm 1522. Đến năm 1534, ông hoàn tất bản dịch Cựu Ước với sự cộng tác của Johannes Bugenhagen, Justus Jonas, Caspar Creuziger, Philipp Melanchthon, Matthäus Aurogallus, và George Rörer. Luther vẫn tiếp tục hiệu đính bản dịch cho đến cuối đời.

Bản dịch Kinh Thánh của Luther đã đóng góp vào sự thành hình ngôn ngữ Đức đương đại, được xem là dấu mốc trong nền văn chương Đức. Bản Kinh Thánh năm 1534 của Luther tạo ảnh hưởng trên bản dịch của William Tyndale, là ấn bản tiền thân cho bản Kinh Thánh King James. Philip Schaff nhận xét về bản dịch này:

“Kết quả lớn nhất của Luther trong thời gian ẩn náu tại Wartburg, cũng là thành tựu quan trọng nhất và hữu ích trong suốt cuộc đời ông, là bản dịch Tân Ước, qua đó ông đã mang sự giáo huấn và cuộc đời mẫu mực của Chúa Cơ Đốc và các Sứ đồ vào lòng và tâm trí của người dân Đức, như là một sự tái tạo giống y như thật. Kết quả này có thể được xem như là sự tái ấn hành phúc âm. Ông đã làm Kinh Thánh trở nên quyển sách của nhân dân, có mặt khắp mọi nơi, trong nhà thờ, trường học và gia đình.”

Với bản dịch Cựu Ước ấn hành năm 1534, Martin Luther hoàn tất công trình dịch thuật toàn bộ Kinh Thánh. Công trình này giúp chuẩn hóa ngôn ngữ Đức và được xem là dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học Đức.

http:codocnhan.org Ngy.Uyên Hiệu Đính
(Nguồn: Wikipedia)

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần – Tiếp Theo và Hết – Mục sư Huỳnh Christian Timothy

287 views

Bài 5
Tín lý của Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần
Tưởng cũng nên nói đến chi tiết về hiện tượng xảy ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1901 tại Trường Thánh Kinh Bethel, Topeka, Kansas để phân biệt với các hiện tượng xảy ra sau này trong các Phong Trào Ân Tứ. Khi nữ sinh viên Agnes Ozman đứng lên yêu cầu ông Hiệu Trưởng Charles Fox Parham đặt tay trên cô cầu nguyện để cô nhận được ân tứ nói ngoại ngữ thì Parham đã đáp ứng yêu cầu của cô. Liền khi đó, Ozman đã bật lên nói tiếng Trung Hoa (Quan Thoại) và suốt hai tuần sau đó, cô chỉ có thể nói và viết bằng tiếng Quan Thoại, là ngôn ngữ mà trước đó cô chưa từng biết đến. Trong vòng tuần lễ kế tiếp, chính Parham và các sinh viên khác cũng bắt đầu nói được các thứ tiếng ngoại quốc khác mà họ chưa bao giờ học biết. Sự kiện đó khiến cho Parham tuyên bố là thời đại Ngũ Tuần đã được tái diễn và ông chiêu mộ những người tình nguyện đi ra nước ngoài làm giáo sĩ, với lòng tin rằng khi đến địa điểm truyền giáo, Đức Thánh Linh sẽ mở miệng các giáo sĩ rao giảng bằng thổ âm địa phương mà họ không cần phải học tập trước. Dĩ nhiên, Đức Thánh Linh đã không làm việc theo cách đó, công cuộc truyền giáo của Parham bị thất bại nặng nề, và khiến ông sửa đổi tín lý về việc “speak in tongues” như sau: “Một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói ngoại ngữ và thứ ngoại ngữ đó không nhất thiết phải là một ngôn ngữ có người hiểu được.” Quan điểm này về sau tạo thành lỗ hỗng cho sự kiện “nói tiếng lạ” cũng được xem là ân tứ nói ngoại ngữ (speak in tongues).
Người Mormon tôn cuốn Kinh Mormon có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh. Người Giê-hô-va Chứng Nhân tôn các tài liệu của Hội Tháp Canh có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh. Người Công Giáo tôn các truyền thống của giáo hội và những giáo lý do các giáo hoàng đưa ra có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh. Người Ân Tứ tôn các khải tượng, lời tiên tri của họ có thẩm quyền hơn cả Thánh Kinh. Thậm chí, họ không còn sống đạo dựa trên Thánh Kinh nữa mà hoàn toàn dựa trên các khải tượng và các lời tiên tri của họ, cùng lời giảng của những người lãnh đạo phong trào.
John Wimber, lãnh tụ của Phong Trào Ân Tứ Làn Sóng Thứ Ba, khi bị thách thức về tính phù hợp lời dạy của Thánh Kinh cho những hiện tượng xảy ra tại Yorba Linda, California, (như: la hét lớn tiếng, cười như mất trí, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, miệng sủi bọt trắng, kêu khóc, tru, rống như thú vật…), đã tuyên bố: “Đức Chúa Trời ở trên Lời của Ngài” (God is above His Word) và “Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi Lời của Ngài” (God is not limited by His Word). Nói cách khác, John Wimber không cần dựa vào Thánh Kinh để xác chứng các hiện tượng.
Khi có ai đó tuyên bố bất cứ một điều gì có thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh, thì đó là tà giáo và con dân Chúa cần phải tránh cho thật xa sự giảng dạy đó, vì ngoài Ba Ngôi Thiên Chúa, Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất và tuyệt đối trong đời sống của con dân Chúa. Bất cứ một điều gì không được Thánh Kinh dạy thì không thể biến đó thành tín lý và không nên giảng dạy, thực hành cho dù điều đó có vẻ hợp lý. Rô-ma 14:23 dạy: “Điều chi làm không bởi đức tin thì đó là tội lỗi;” mà đức tin của tín đồ Đấng Christ là đức tin vào trong chính mình Đấng Christ và lời của Ngài là Thánh Kinh. Đức tin của tín đồ Đấng Christ không dựa vào những kinh nghiệm hoặc cảm xúc thiếu sự xác chứng của Thánh Kinh. Cho dù là tiếng phán nghe được trong nội tâm hay là khải tượng, chiêm bao đến từ một nhân vật sáng láng tự xưng là Chúa mà những tiếng nói đó, những khải tượng, chiêm bao đó không phù hợp với lẽ thật đã được bày tỏ trong Thánh Kinh thì dứt khoát chúng không đến từ Chúa. Thánh Kinh ghi rõ lời cảnh báo sau đây: “Nào có lạ gì, chính quỷ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng” (II Cô-rinh-tô 11:14).
Sự Báp-tem Bằng Thánh Linh Theo Thánh Kinh
Theo Thánh Kinh, khi một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì lập tức người đó được tha tội, được tái sinh, được báp-tem bằng Thánh Linh, được thánh hóa, được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời, được lời hứa về sự sống đời đời, và được đồng kế tự với Đấng Christ.
“Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem”(Ê-phê-sô 4:5). Một Chúa là Đức Chúa Jesus Christ. Một đức tin là đức tin vào trong Đấng Christ, nghĩa là tin vào mọi lời Ngài phán, vào mọi việc Ngài làm. Một phép báp-tem là phép báp-tem nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà Đấng Christ đã truyền trong Ma-thi-ơ 28:19. Trong phép báp-tem đó, khi nhân danh Đức Thánh Linh thì tín nhân được chính Đấng Christ báp-tem vào trong Thánh Linh.
Sự kiện người thật lòng tin nhận Chúa liền được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh là một điều đương nhiên như khi một em bé vừa được sinh ra đời thì lập tức được nhúng chìm (báp-tem) vào trong bầu khí quyển, em bé chỉ việc hít thở không khí vào phổi. Sự kiện đầy dẫy Thánh Linh tùy thuộc vào lòng tin cậy và yêu mến Chúa của một người, như việc không khí có vào đầy buồng phổi của em bé hay không là tùy thuộc sự hít thở của em bé và sự thông suốt của đường hô hấp. Một người tin nhận sự cứu rỗi của Chúa nhưng chưa hết lòng yêu mến Chúa, vẫn còn lưu luyến hoặc chăm lo thế gian và những sự thuộc về thế gian thì không thể nào được đầy dẫy Thánh Linh. Những người như vậy, dầu có được một ngàn người đầy ơn, đặt tay cầu nguyện cho cũng sẽ không bao giờ đầy dẫy Thánh Linh.
Sự Đầy Dẫy Thánh Linh
Mệnh lệnh của Chúa là: “Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh” (Ê-phê-sô 5:8). Ý nghĩa của mệnh lệnh này là đừng sống theo xác thịt, đừng chăm những sự thuộc về xác thịt, nhưng hãy sống theo Thánh Linh, chăm những sự thuộc về Thánh Linh (Rô-ma 8:5). Các sứ đồ của Chúa và các tín đồ của thời Hội Thánh mới thành lập đầy dẫy Thánh Linh vì họ đã bỏ hết mọi sự để đi theo Chúa, tích cực đáp lại lời kêu gọi của Ngài: “Đoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.” (Mác 8:34). Xin lưu ý, đây là điều kiện dành cho mọi người: người đã tin Chúa (các môn đồ) lẫn người chưa tin Chúa (dân chúng). Họ đã bán hết tài sản để nhập làm của chung, sống yêu thương hiệp một với nhau trong danh Chúa (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:32-35). Vì vậy, Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh và Đức Thánh Linh được tự do hành động giữa Hội Thánh. Sự đầy dẫy Thánh Linh; vì thế, tùy thuộc vào tấm lòng của người tin Chúa chứ không tùy thuộc vào sự đặt tay cầu nguyện. Ngày nào Hội Thánh ăn năn tội, xưng nhận tội, bỏ hết mọi sự, đi theo Chúa với lòng sốt sắng yêu mến Chúa và yêu thương lẫn nhau như Hội Thánh lúc ban đầu, ngày đó Hội Thánh sẽ được phục hưng, sẽ được đầy dẫy Thánh Linh.
Sự kiện một tín đồ Đấng Christ chân thành khao khát được đầy dẫy Thánh Linh, được sống một đời sống sung mãn trong Đấng Christ, sinh ra nhiều bông trái thuộc linh, hoàn toàn xứng hiệp với thánh ý của Chúa. Sự khao khát chân chính đó sẽ được Đức Chúa Trời đáp ứng khi một người thật sự ở trong Đấng Christ và lời của Đấng Christ ở trong họ (Giăng 15:5, 7). Điều sai lầm là có những người chưa chịu từ bỏ nếp sống cũ tội lỗi, vẫn còn ưa thích thế gian và những điều thuộc về thế gian, nhưng lại muốn đầy dẫy Thánh Linh, muốn có được quyền năng và phép lạ để chứng tỏ “trình độ” thuộc linh của mình, để được loài người tôn vinh mình, chạy theo mình… như thuật sĩ Si-môn trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương 8. Nếu không có sự ăn năn tội, xưng tội, từ bỏ thế gian, hết lòng vâng phục lời Chúa thì các dấu kỳ, phép lạ có được, chẳng qua là đến từ Sa-tan, là kẻ mạo làm thiên sứ sáng láng và những kẻ giúp việc nó (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Dấu kỳ và phép lạ được làm ra trong danh Chúa không phải là bằng cớ xác chứng người làm ra chúng thuộc về Chúa. Chính nếp sống đạo và các giáo lý đi ngược lại lẽ thật của Thánh Kinh của những người “nhân danh Chúa nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ… ” giúp cho Hội Thánh của Chúa nhìn ra những kẻ mang lốt chiên đến cùng Hội Thánh (Ma-thi-ơ 7:15-23).
Kết Luận
Đứng trước những biến động trong Hội Thánh do các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần gây ra, người tín đồ chân chính của Đấng Christ đối diện với hai sức kéo:
1. Hoàn toàn phủ nhận các phong trào này là công vụ của Đức Thánh Linh và duy trì sinh hoạt của Hội Thánh trong khuôn khổ truyền thống xưa nay.
2. Hoàn toàn ủng hộ các phong trào này như là những cuộc phục hưng của Hội Thánh bởi quyền phép của Đức Thánh Linh, và như vậy, thay đổi hẳn lối sinh hoạt truyền thống của Hội Thánh.
Nhiều người đã chọn thái độ thích đáng như sau:
1. Đối với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần: Gạt bỏ tất cả những hiện tượng xuất thần không được Thánh Kinh hổ trợ, như: hiện tượng đặt tay té ngã, hiện tượng tiếng cười thánh, hiện tượng âm thanh của súc vật… Gạt bỏ tất cả những sự thể hiện ân tứ không đúng với chỉ thị xử dụng ân tứ trong Thánh Kinh, như: “nói tiếng lạ” không có người thông giải, và những cuộc truyền giảng chữa bệnh, đuổi quỷ. Gạt bỏ tất cả các giáo lý không có trong Thánh Kinh hoặc đi ngược lại sự dạy dỗ của Thánh Kinh, như: giáo lý Đức Chúa Trời Một Ngôi (Oneness), giáo lý Tin Lành Thịnh Vượng, giáo lý Chiều Kích Thứ Tư… Cần chấp nhận tuyệt đối thẩm quyền của Thánh Kinh trong mọi sinh hoạt của Hội Thánh.
2. Đối với truyền thống: Bỏ đi những sự thờ phượng nặng phần hình thức mà thiếu quyền năng sống động, tươi mới của Đức Thánh Linh. Bỏ đi quan điểm “các ân tứ của Đức Thánh Linh đã chấm dứt sau thế kỷ thứ nhất”. Cần tích cực truyền giáo với quyền năng và sức sống của Đức Thánh Linh.
Riêng đối với Hội Thánh Việt Nam, chẳng những cần có một thái độ thích đáng như trên mà còn cần dẹp tan tinh thần giáo phái và lối tổ chức giáo quyền hàng dọc.
Cầu xin sự thương xót của Đức Chúa Trời bao phủ trên Hội Thánh Việt Nam để mỗi người chăn và mỗi con chiên đều nhìn thấy thực trạng của Hội Thánh, sẵn lòng hạ mình ăn năn, xưng tội với Đức Chúa Trời và với nhau, hết lòng sống Lời Chúa và giảng Lời Chúa một cách trung thực để Hội Thánh thực sự được phục hưng và dân tộc Việt Nam có nhiều người được cứu. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
09.01.2007
Hiệu Đính lần Thứ Nhất 13.12.2012
Ghi Chú
[1] Xem ý nghĩa các phép báp-tem tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/455
[2] Các websites sau đây sưu tầm rất nhiều những đoạn video ghi lại các hiện tượng kể trên: http://www.bible.ca/tongues-audio-video-documentation.htmhttp://video.google.com/videoplay?docid=-5162260544921752923
[3] http://www.vbcweb.org/media.php?catid=47

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần – Mục sư Huỳnh Christian Timothy

317 views

Bài 4
Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) hoặc “Làn Sóng Thánh Linh Thứ Ba” (The Third Wave of the Holy Spirit) bắt đầu vào đầu thập niên 1980 và vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Các phong trào như: Vineyard Christian Fellowship, Global Harvest, Toronto Blessing, Eternal Grace là biến dạng của Phong Trào Dấu Lạ. Những người thuộc Phong Trào Dấu Lạ không chấp nhận họ thuộc về Ngũ Tuần hoặc Ân Tứ.

Điểm khác biệt nổi bật của Phong Trào Dấu Lạ đối với Ân Tứ và Ngũ Tuần là Phong Trào Dấu Lạ có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự kiện “nói tiếng lạ” như là bằng chứng của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Nhiều nhà lãnh đạo trong phong trào này không hề có kinh nghiệm “nói tiếng lạ,” trái lại, họ quan tâm đến khía cạnh dấu kỳ, phép lạ, các sự hiện thấy, sự nói tiên tri, cùng cái gọi là “lời nói thông biết” (the word of knowledge – được tận dụng trong chương trình truyền hình 700 Club của Pat Robertson trong sự tuyên bố các chi tiết về sự chữa lành xảy ra cho một số khán thính giả đang ngồi tại nhà riêng, xem chương trình 700 Club qua máy truyền hình). Phong Trào Dấu Lạ chấp nhận cả hai quan điểm về sự được báp-tem bằng Thánh Linh:

1. Một người được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh khi thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, (quan điểm của Tin Lành truyền thống). Những người thuộc Giáo Phái Vineyard Christian Fellowship bảo vệ tích cực quan điểm này.

2. Một người được báp-tem bằng Thánh Linh nếu tìm cầu điều này sau khi tin nhận Chúa, (quan điểm của Ân Tứ và Ngũ Tuần). Báp-tem bằng Thánh Linh không liên quan đến sự cứu rỗi mà chỉ liên quan đến năng lực sống đạo và giảng đạo.

Peter Wagner (Global Havest Ministry) và John Wimber (Vineyard Christian Fellowship) được xem là những nhân vật tiên phong của Phong Trào Dấu Lạ. Vào năm 1977, Carol, vợ của Wimber, vốn xuất thân từ Công Giáo, nằm chiêm bao thấy mình được đầy dẫy Thánh Linh và khi bà thức dậy thì biết “nói tiếng lạ.” Mười tháng sau, Wimber kinh nghiệm được một sự chữa lành trong chính thân thể của ông và bắt đầu tin rằng việc chữa bệnh, đuổi quỷ như Đức Chúa Jesus là khả thi. Nhờ quen biết với Peter Wagner, một giảng sư tại Fuller Theological Seminary School of World Missions mà Wimber được mời cùng dạy lớp “Dấu Lạ” (Signs and Wonders) tại Fuller Seminary với Wagner. Lớp học này dạy về sự chữa lành thiên thượng và trở thành lớp học nổi tiếng nhất tại Fuller cho đến khi bị đình chỉ vào năm 1985, vì các viên chức trong trường có những thắc mắc về tính thần học và kinh viện của môn học.

Bên cạnh hiện tượng “bị giết trong Thánh Linh” như trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, có ba hiện tượng nổi bật trong Phong Trào Dấu Lạ được cho là sự thể hiện của Đức Thánh Linh, là: Tiếng Cười Thánh (The Holy Laughter – sự vui mừng khi được đầy dẫy Thánh Linh khiến một người trở thành “say Thánh Linh,” không kềm hãm được tiếng cười biểu lộ niềm vui), Tiếng Gầm Tiên Tri (The Prophetic Roar – tiếng rống lớn phát ra từ cổ họng của những người được đầy dẫy Thánh Linh, được cho là dấu hiệu Đức Chúa Trời thông báo sự kiện Ngài bắt đầu chiếm lại quyền tể trị thế giới này từ Satan), và Âm Thanh Của Thú Vật (The Animal Noises – sự tru, hú, gầm gừ như các loài thú, kể cả cục tác như gà, rống như heo, và tru như chó… chưa được những người Ân Tứ định nghĩa) [2]. Gần đây, Wimber đã yêu cầu các hội chúng thuộc giáo phái Vineyard Christian Fellowship do ông sáng lập ngưng chấp nhận hiện tượng Tiếng Cười Thánh.
Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần trong Hội Thánh Việt Nam Tin Lành đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp. Vào giữa thập niên 1960, các Giáo Phái Ngũ Tuần, và Giáo Phái Anh Em (Quaker) đem theo hiện tượng “nói tiếng lạ,” theo chân những người lính viễn chinh Hoa Kỳ đến Việt Nam, và tạo ra vài nhóm nhỏ tại Saigon nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến Hội Thánh Việt Nam. Phong Trào Ân Tứ đến Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và bắt đầu trong Giáo Hội Công Giáo trước, qua Phong Trào Công Giáo Về Nguồn (do những người Công Giáo chủ trương quay lại với lời Chúa, là Thánh Kinh, khởi xướng). Chính hiện tượng “nói tiếng lạ” trong Phong Trào Công Giáo Về Nguồn gây nhiều chú ý đến các mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Có một số sinh viên Tin Lành đã tham dự sinh hoạt với Phong Trào Công Giáo Về Nguồn và nhận được sự “nói tiếng lạ.” Nhiều sinh viên Tin Lành khác bắt đầu nghiên cứu về các Giáo Phái Ngũ Tuần.

Điều đáng nói là thuở ấy tài liệu biện giáo thì ít, hầu như là không có, trong khi các tài liệu cổ võ về Phong Trào Ngũ Tuần thì tràn ngập, cho nên, các sinh viên chỉ học biết một chiều về những điểm tích cực của Ngũ Tuần. Hội Thánh Việt Nam, vào thời đoạn đó, phần lớn là tín đồ thuộc Giáo Phái Phúc Âm Liên Hiệp (The Christian and Missionary Alliance với danh xưng chính thức là: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) đã tích cực chống đối các hiện tượng “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ.” Ít lâu sau, một vài mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhận được sự “nói tiếng lạ” trong khi nhóm họp với các nhóm Công Giáo Về Nguồn, hoặc trong khi nhóm họp với các nhóm Anh Em (Quaker). Sau đó, một vài mục sư đã ly khai Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, sáng lập các giáo phái Ngũ Tuần Việt Nam.

Năm 1972, tại Việt Nam có sự phục hưng phát sinh từ Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha Trang. Trong cuộc phục hưng đó, không có sự kiện té ngã, không có sự kiện “nói tiếng lạ” nhưng có sự tan vỡ cõi lòng, khóc lóc, ăn năn, xưng tội tập thể, đốt bỏ bùa chú, hình tượng, mọi người làm hòa với nhau, có sự chữa lành bệnh tật tức thì (không phải lành bệnh từ từ), có sự đuổi quỷ, có sự người chết được sống lại… nghĩa là có đầy đủ dấu hiệu Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh như đã được ghi chép trong Thánh Kinh. (Xin xem “Phép Lạ Rừng Xanh,” Bà Phạm Văn Năm; “Việc của Đức Giê-hô-va,” Pastor Trương Văn Tốt; “Công Cuộc Truyền Giáo Tin Lành,” Pastor Phạm Xuân Tín). Trước khi Hội Thánh Việt Nam bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập và bị cường quyền đàn áp thì Đức Chúa Trời đã thương xót, cho Hội Thánh được nếm trải sự tuôn tràn Thánh Linh, để dựa vào đó mà phân biệt với hiện tượng “nói tiếng lạ” đến từ tà linh.

Sau năm 1975, Phong Trào Ân Tứ bắt đầu lan tràn khắp Miền Nam Việt Nam trong các nhóm Tư Gia, (những nhóm nhỏ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà riêng để tránh sự đàn áp của chính quyền), và phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên 1990 nhờ các tài liệu về Ân Tứ được dịch ra Việt Ngữ và phổ biến trong các nhóm Tư Gia; đồng thời, có nhiều Giáo sĩ Ân Tứ người Việt cũng như người ngoại quốc, từ nước ngoài âm thầm xâm nhập Việt Nam qua hình thức thăm quê hương và du lịch để quảng bá cho Phong Trào Ân Tứ. Trong giai đoạn đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một mặt buộc phải hòa hoãn với chính quyền mới để được công nhận tư cách pháp nhân, một mặt các mục sư bị cán bộ và công an tôn giáo theo dõi chặt chẽ, cho nên, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần bị giảm thiểu và khô cạn. Trong hoàn cảnh đó, những sứ giả của Ân Tứ và Ngũ Tuần càng nổ lực phát triển mô hình nhóm nhỏ, nhóm tại tư gia và tích cực trong công tác truyền giáo. Có thể nói, số người tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ thuộc các Hội Thánh Tư Gia phần lớn là tín đồ mới chứ không phải tín đồ từ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển sang.

Đến cuối thập niên 1990, với sự tiếp sức của các giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần Nam Hàn, với áp lực của các doanh nhân Nam Hàn trên chính quyền Việt Nam, không bao lâu, phong trào Tin Lành Tư Gia phát triển rầm rộ, xây cất nhiều cơ sở nhóm họp, gây tiếng vang trong và ngoài nước. Hiện nay, có thể nói, số thành viên thuộc các nhóm Ân Tứ và Ngũ Tuần tại Việt Nam nhiều hơn số thành viên thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.
Điều đáng chú ý là những người đi tiên phong trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần tại Việt Nam thiếu sự hiểu biết về lịch sử và tín lý của các phong trào này, cho nên, tạo ra một nét đặc thù của Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam. Nét đặc thù đó là: Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam tổng hợp tất cả những đặc tính của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phát sinh từ Hoa Kỳ.

Đối với người Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam, bất kỳ giáo sĩ, hoặc tài liệu, hoặc tài chánh của bất kỳ một giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần nào từ Hoa Kỳ đến, đều được hoan nghênh nhiệt liệt. Người Ân Tứ và Ngũ Tuần Việt Nam chỉ dựa vào một mẫu số chung: hiện tượng “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ,” cùng sự chữa bệnh, đuổi quỷ (!) Các giáo lý mới lạ được đón nhận dễ dàng dựa trên lý luận: điều đó nghe hợp lý và do “mục sư danh tiếng” giảng thì chắc là không sai. Điển hình là giáo lý về Tin Lành Thịnh Vượng (The Prosperity Gospel) do Kenneth Hagin, Benny Hinn, và Joel Osteen giảng dạy; giáo lý Chiều Kích Thứ Tư (The Fourth Dimension) do David (Paul) Yonggy Cho (quản nhiệm một hội chúng với số thành viên lên đến trên 850,000 người) khởi xướng.

Hội Thánh Việt Nam tại Hải Ngoại, đặc biệt là tại Đức và các nước thuộc khối Liên sô cũ, cũng bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập mạnh mẽ. Có những nơi, hầu như hoàn toàn là Ân Tứ. Hầu như Tin Lành truyền thống không có chỗ đứng trong các nước này, vì hai lý do chính:

1. Các giáo phái thuộc Giáo Hội Tin Lành Truyền Thống của người Việt không tích cực trong công tác truyền giáo.

2. Nếu các giáo phái thuộc Giáo Hội Tin Lành Truyền Thống có đi truyền giáo thì hầu hết cũng thỏa hiệp với các giáo sĩ của Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Còn một lý do phụ là: Cách thức nhóm họp, thờ phượng sôi nổi với các hiện tượng đặc thù của Ân Tứ, Ngũ Tuần như: “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” và nhảy múa dễ thu hút những người Việt Nam phần lớn tha hương từ miền Bắc Việt Nam. Hai cánh đồng truyền giáo Việt Nam rất lớn tại Mã-lai và Nam Hàn cũng không thoát ra ngoài tình trạng nói trên.

Riêng tại Bắc Mỹ, cho đến giữa thập niên 2000, Ân Tứ và Ngũ Tuần rất khó xâm nhập vào Hội Thánh Việt Nam, bởi vì, phần lớn các Hội Thánh Việt Nam thuộc về các giáo phái truyền thống. Từ 2005 cho đến nay, tình hình đang chuyển hướng: hàng trăm mục sư thuộc các giáo phái truyền thống như Báp-tít và CMA cũng nghiêng về Phong Trào Ân Tứ, cho phép các mục sư Ân Tứ đến giảng và đặt tay cầu nguyện, chữa bệnh, đuổi quỷ trong Hội Thánh do mình quản nhiệm hoặc trong các Trại Bồi Linh do mình tổ chức.

Một trong các mục sư Ân Tứ Việt Nam tiếng tăm là Huỳnh Quốc Khánh, quản nhiệm Vietnamese Baptist Church tại Houston, Texas, USA. Trên website của tổ chức này [3] có các bài dịch và ghi âm Việt Ngữ tác phẩm Chiều Kích Thứ Tư của David (Paul) Yonggy Cho. Từ năm 2004 đến nay, hàng năm, vào tháng 10, Mục Sư Khánh và Vietnamese Baptist Church tại Houston tổ chức Hội Đồng Phục Hưng. Số mục sư và tín đồ thuộc đủ giáo phái về tham dự ngày càng đông hơn là các cuộc Hội Đồng Thường Niên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Giáo Hạt Bắc Mỹ hoặc Liên Hữu Baptist Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Kỳ Sau
Tín lý của Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần – Mục sư Huỳnh Christian Timothy

259 views

Bài 3

Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement)

Đây được gọi là Phong Trào Tân Ngũ Tuần (The Neo-Pentecostal Movement). Từ Phong Trào Ngũ Tuần phát sinh ra Phong Trào Ân Tứ. Phong Trào Ân Tứ nhấn mạnh đến các ân tứ của Đức Thánh Linh như: nói ngoại ngữ (nhưng đã bị hiểu lầm thành “nói tiếng lạ” – xin độc giả ghi nhớ, “nói tiếng lạ” tức là phát ra những âm thanh vô nghĩa), nói tiên tri, nói lời khôn ngoan, nói lời thông biết, chữa bệnh, đuổi quỷ, làm phép lạ… (I Cô-rinh-tô 12:8-10). Phong Trào Ân Tứ ảnh hưởng đến Hội Thánh mạnh mẽ hơn Phong Trào Ngũ Tuần. Ban đầu, Phong Trào Ân Tứ không chủ trương cho các thành viên tách rời khỏi các giáo hội, giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng chủ trương cho các thành viên ở lại để Ân Tứ hóa toàn bộ giáo hội và giáo phái mà họ đang sinh hoạt với. Chỉ khi nào bị chính các giáo hội hay giáo phái khai trừ thì các thành viên của Phong Trào Ân Tứ mới đi ra lập thành nhóm khác. Về sau, với sự lớn mạnh của phong trào, các nhà lãnh đạo Ân Tứ muốn độc lập điều hành ngân quỹ do các thành viên đóng góp, cho nên, đã lập ra các giáo phái riêng.

Vào năm 1960, Dennis Bennett, linh mục của Saint Mark’s Episcopal Church tại Van Nuys, California (thuộc Giáo Phái American Episcopal – Giám Nhiệm Hoa Kỳ) tuyên bố với hội chúng, rằng ông ta đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Sau đó, Bennett dẫn thêm 100 tín hữu đến với kinh nghiệm nhận “báp-tem bằng Thánh Linh” và biết “nói tiếng lạ.” Hiện tượng “nói tiếng lạ” bùng nổ tại Saint Mark’s Episcopal Church khiến cho các tạp chí Times và Newsweek thời bấy giờ làm phóng sự đưa lên bìa báo (cover story). Giáo Phái Giám Nhiệm Hoa Kỳ không công nhận hiện tượng đó đến từ Đức Thánh Linh nên đã bãi nhiệm Bennett. Ông đến Vancouver, Canada thiết lập nhiều lớp huấn luyện, dạy về công vụ của Đức Thánh Linh, gây ảnh hưởng sâu đậm đến tín đồ Anh Giáo khắp nơi trên thế giới, và dẫn đến những cuộc gọi là “phục hưng” trong các hội chúng Giám Nhiệm, Anh Giáo, Lutheran, Công Giáo và Chính Thống Giáo. Đến tháng 10 năm 1962 Phong Trào Tân Ngũ Tuần xâm nhập vào các trường đại học tại Mỹ, sau đó lan vào trong các trường thần học. Chính Phong Trào Tân Ngũ Tuần đi vào Giáo Hội Công Giáo làm phát sinh ra Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng.

Praise and Worship during a Catholic Charismatic Renewal Healing Service.

Tính đến năm 1990, phong trào này bao gồm trên 55 triệu tín đồ thuộc các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành.

Phong Trào Lời Đức Tin (Word of Faith Movement) được xem như sự nối dài của Phong Trào Ân Tứ. Ngoài những đặc điểm chung với Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Lời Đức Tin nhấn mạnh đến “quyền năng của đức tin.” Những người thuộc phong trào này tin rằng họ có thể dùng lời nói để điều động “quyền năng của đức tin,” và như vậy, họ có thể tạo ra những gì mà họ tin rằng Thánh Kinh đã hứa, như: sức khoẻ, sự giàu có… Theo họ, những định luật chi phối “quyền năng của đức tin” vận hành độc lập với ý chỉ siêu việt của Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời cũng bị chi phối bởi những định luật này (?) Ngoài ra, Phong Trào Lời Đức Tin còn đưa ra những tín lý như: Mỗi tín nhân là một Đức Chúa Trời Con vì Đức Chúa Trời dựng nên loài người cùng bản thể với Ngài. Tín đồ Đấng Christ phải được khoẻ mạnh và giàu có. Tín đồ Đấng Christ phải luôn có những lời tuyên xưng tích cực (positive confession). Vì Đức Chúa Trời đã dùng lời nói để sáng tạo nên tín nhân cũng có thể dùng những lời nói tích cực để thu đạt những kết quả tích cực. Đấng Christ chết phần thể xác, nhưng cũng chết phần tâm thần trong địa ngục, chịu Ma Quỷ hành hạ, và tâm thần của Ngài đã được tái sinh trong địa ngục…

Sáng lập viên và hiệu trưởng của trường Rhema Bible College tại Tulsa, Oklahoma, USA là Kenneth Hagin (1917-2003), được xem là bố già (Papa Hagin) của Phong Trào Lời Đức Tin.

Kenneth Erwin Hagin (1917-2003)

Những giáo sư nổi tiếng khác của phong trào này là: Benny Hinn, Bishop Eddie L. Long, Clarence McClendon, Creflo Dollar, Ed Young, Fred Price, Jesse Duplantis, John Bevere, Joel Osteen, Joyce Meyer, Juanita Bynum, Karl Strader, Kenneth Copeland, Kim Clement, Larry Huch, Marilyn Hickey, Markus Bishop, Mike Murdock, Morris Cerullo, Myles Munroe, Oral Roberts, Paul Crouch, Paula White, Peter Popoff, R.W. Shambach, Robert Schuller, Rod Parsley, Rodney Howard-Browne, Robert Tilton, Steve Munsey, T.D. Jakes…

Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement)

Tháng 2 năm 1967, một số nhân viên và nhiều sinh viên của một trường đại học tư, Duquesne University, thuộc Giáo Hội Công Giáo tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA trải qua một kinh nghiệm mà họ gọi là “được báp-tem bằng Thánh Linh.” Những điều họ kinh nghiệm, là: “nói tiếng lạ,” “thánh tiếu” (tiếng cười thánh – Holy laughter), xuất thần, khóc, la, gào, hú, tru như chó… không thể tự kềm chế. Liền sau đó, những hiện tượng này lan tràn sang một trường đại học tư khác, cũng thuộc Giáo Hội Công Giáo, University of Notre Dame, tại Indiana, USA. Notre Dame có nghĩa là “Đức Bà của chúng ta,” (chỉ về bà Ma-ri). Đến năm 2003, Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng lan rộng đến trên 230 quốc gia và bao gồm trên 119 triệu tín đồ Công Giáo.

Các Giáo Hoàng: Paul VI (nắm quyền: 1963-1978), John Paul II (nắm quyền: 1978-2005), và Benedict XVI (nắm quyền: 2005 – đến nay) đều chấp nhận Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Giáo Hoàng John Paul II cho rằng, phong trào này thuộc vào sự phục hưng của toàn Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hoàng Paul và Benedict khuyến cáo các thành viên của phong trào phải giữ gìn sự thông công giữa họ và Giáo Hội Công Giáo.

Tháng 3 năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã phát biểu như sau: “Trong khoảnh khắc này của lịch sử giáo hội, sự Phục Hưng Ân Tứ có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cổ võ tính tự vệ rất cần thiết cho cuộc sống của người tín đồ Đấng Christ trong những xã hội mà thế tục và vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp ứng Đức Thánh Linh và nhận thức tiếng gọi từ Đức Chúa Trời của nhiều người. Sự cống hiến của quý vị vào công cuộc tái phúc âm hóa xã hội sẽ được thực hiện trước hết qua lời chứng cá nhân về sự Đức Thánh Linh ngự trị bên trong và sự chiếu ra sự hiện diện của Ngài qua các công tác thánh khiết và hiệp một.”

(“At this moment in the Church’s history, the Charismatic Renewal can play a significant role in promoting the much-needed defense of Christian life in societies where secularism and materialism have weakened many people’s ability to respond to the Spirit and to discern God’s loving call. Your contribution to the re-evangelization of society will be made in the first place by personal witness to the indwelling Spirit and by showing forth His presence through works of holiness and solidarity.” – Address of Pope John Paul II to the ICCRO Council – March 14, 1992.)

Phần lớn người Công Giáo Ân Tứ tin rằng Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng được phát sinh bởi lời cầu nguyện của Giáo Hoàng John XXIII trong Công Đồng Vatican II: “Lạy Đức Thánh Linh… xin tuôn tràn sự đầy dẫy các ân tứ của Ngài… Xin làm mới lại những sự lạ lùng của Ngài trong thời đại này như là một Lễ Ngũ Tuần mới.” (“O Holy Spirit… pour forth the fullness of your gifts… Renew your wonders in this day as by a new Pentecost”).

Điều đáng chú ý là Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng không loại bỏ sự thờ lạy hình tượng của bà Ma-ri, sự lần chuỗi hạt Mân-côi, sự cầu nguyện với bà Ma-ri… cùng nhiều giáo lý phản Thánh Kinh khác của Giáo Hội Công Giáo. Nhiều nhóm Ân Tứ Công Giáo nhận được sự xuất thần và sự “nói tiếng lạ” trong khi kêu cầu bà Ma-ri (!)

Kỳ sau:  Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement)

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần – Kỳ 2 – Mục sư Huỳnh Christian Timothy

288 views

 Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Ngũ Tuần Cổ Điển (The Classical Pentecostal Movement). Ngũ Tuần (Pentecostalism) phát xuất từ Giáo Hội Tin Lành như một phong trào nhấn mạnh đến kinh nghiệm cá nhân của một người với Đức Chúa Trời thông qua cái gọi là “báp-tem bằng Thánh Linh” (the baptism of the Holy Spirit). Có ba trường phái Ngũ Tuần chính:

Trường phái thứ nhất chiếm đa số, có tín lý tương tự như các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành, như tín lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, tín lý về sự cứu rỗi, tín lý về thẩm quyền của Thánh Kinh. Điều khác biệt là họ tin rằng “nói tiếng lạ” là dấu hiệu phải có của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Hai trường phái còn lại (một làm lễ báp-tem chỉ trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, một làm lễ báp-tem trong danh của Ba Ngôi Thiên Chúa) dùng Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38 làm nền tảng cho tín lý: Một người cần phải ăn năn tội, nhận báp-tem trong danh Đức Chúa Jesus Christ, rồi nhận lãnh ĐứcThánh Linh. Nhận lãnh Đức Thánh Linh là điều cần thiết cho sự cứu rỗi và (theo hai trường phái này) có nghĩa là phải biết “nói tiếng lạ.” Như vậy, theo họ, nếu một người tin Chúa mà không biết “nói tiếng lạ” là chưa được báp-tem bằng Thánh Linh và có nghĩa là chưa được cứu rỗi. Hai trường phái này chia ra thành các giáo phái: “Jesus Name,” “First,” “United,” và “Oneness.” Từ trong bốn giáo phái chính này lại phát sinh ra nhiều tiểu giáo phái khác nữa.

Phong trào Ngũ Tuần phát sinh với George Fox (1624-1691, England), một tín đồ thuộc Giáo Phái Giám Lý (Methodist) và thành viên của phong trào Thánh Khiết (Holliness Movement), là một phong trào cũng bắt nguồn từ Giám Lý.

George Fox

Vào năm 19 tuổi, George Fox ly khai giáo hội vì không chịu nỗi sự hâm hẫm của nó. Chàng thanh niên trẻ khao khát một đời sống thuộc linh phong phú và nóng cháy. Tuy nhiên, thay vì dựa trên nền tảng muôn đời là Lời Chúa để sống đạo, chàng đã dựa trên cảm giác và kinh nghiệm. Chàng nghe một giọng nói phán với chàng, như sau: “Không phải Lời Thánh Kinh bên ngoài, không phải sự giảng dạy của giáo hội, không phải Đấng Christ bên ngoài có thể hướng dẫn con, nhưng là ánh sáng bên trong, là Đấng Christ nội tại.” (Not the outward Word of Scripture, not the teaching of the church, not the outward Christ can lead you, but only the inner light, the inward Christ.)

Fox trở thành người sáng lập nhóm Con Cái của Sự Sáng (Children of Light) còn gọi là Xã Đoàn Thân Hữu (Society of Friends). Về sau, các đối thủ của ông gọi nhóm của ông là Quakers. (Quake = rung động, quakers = những người hay vật bị rung động. Có lẽ các đối thủ của Fox muốn chế nhạo sự kiện run rẩy trong khi xuất thần của những người thuộc nhóm ông. Tại Việt Nam, Quaker được gọi là Giáo Phái Anh Em). Danh xưng Quaker không bao giờ được Fox và những người theo ông chấp nhận nhưng vẫn được những người ngoài nhóm của ông xử dụng và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù trong thuở ban đầu phái Quaker bị bách hại tàn bạo tại Anh nhưng đã phát triển đi khắp nơi, mạnh mẽ nhất là tại Hoa Kỳ và Đông Phi Châu. Điểm quan trọng cần chú ý trong quan điểm cực đoan của phái Quaker ngay từ nguyên thỉ, là: Họ xem ánh sáng nội tại (tâm thức, sự hiểu biết đến từ bên trong) và tiếng phán từ trên cao quan trọng hơn là Lời của Chúa trong Thánh Kinh. (Đối với Phong Trào Ân Tứ sau này thì dấu kỳ và phép lạ quan trọng hơn là Thánh Kinh). Điều đó là cánh cửa mở rộng cho đủ mọi thứ tà giáo xâm nhập. Ngay từ buổi sơ khai của phái Quaker đã có hiện tượng “nói tiếng lạ” xuất hiện trong nhiều nhóm.

Vào những năm 1800, phái Irvinggian được thành lập do Edward Irving (1792-1834), vốn là một pastor thuộc Giáo Hội Trưởng Lão (Presbyterian), với danh xưng là Giáo Hội Công Giáo Sứ Đồ (Catholic Apostolic Church) xứ Scotland.

Edward Erving

Phái này thực hành, giảng dạy sự “nói tiếng lạ” cùng những hình thức xuất thần và các hiện tượng chữa bệnh, khải tượng, nói tiên tri… nên thu hút rất đông tín đồ từ các giáo hội truyền thống vốn đã quá khô cạn sự sống thuộc linh vì sự tắc trách của những người chăn bầy. Phái Irvingian phát triển nhanh chóng sang Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ, và đặc biệt là Đức, với trung tâm chính tại Augsburg, và nơi có đông tín đồ nhất là Stuttgart.

Giữa những phong trào xuất thần có phái Mormon, còn được biết dưới danh xưng Latter Day Saints, do Joseph Smith (1805-1844) thành lập. Người Mormon cũng được biết đến qua những hiện tượng về khải tượng, mạc khải, “nói tiếng lạ,” và chữa bệnh. Smith xưng rằng, ông nhận được khải tượng đến từ thiên sứ Moroni.

Joseph Smith

Theo Smith, thiên sứ Moroni đã cho ông thấy những tấm bảng bằng vàng trên có viết chữ tại Mount Cumorah và ông đã nhận lãnh những bảng này vào năm 1827. Đối với những người Mormon, những chữ viết trên các tấm bảng vàng này có cùng một thẩm quyền như Thánh Kinh. Smith còn tuyên bố ông đã được phong chức tế lễ theo dòng A-rôn bởi Giăng Báp-tít. Về sau, ông tuyên bố rằng: các Sứ Đồ Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đã phong chức tế lễ cho ông theo dòng Mên-chi-xê-đéc. Smith bị giết vào năm 1844.

Ngay cả vùng cực Bắc của Liên sô cũ cũng có hiện tượng “nói tiếng lạ” trong một làng nhỏ tên là Kara Kala của dân tộc Armenian, vốn theo Chính Thống Giáo Nga. Vì bị giáo hội khủng bố, cho nên, vào năm 1900, những người Armenian “nói tiếng lạ” này lánh nạn sang Hoa Kỳ và định cư tại Los Angeles. Vài năm sau, nhóm này kết hợp với một nhóm “nói tiếng lạ” khác tại Azusa Street, Los Angeles.

Tại Hoa Kỳ, mặc dù hiện tượng “nói tiếng lạ” (không phải là một ngôn ngữ) đã xảy ra từ trước, nhưng đến năm 1901 mới thành phong trào dấy lên khi ân tứ “nói ngoại ngữ” phát sinh từ Trường Thánh Kinh Bethel ở Thủ Đô TopeKa của Tiểu Bang Kansas, do Charles Fox Parham (1873-1929) dẫn đầu. Parham xuất thân từ Giáo Phái Giám Lý (Methodist), là một người sốt sắng trong sự kêu gọi người theo Chúa phải sống thánh khiết. Ông phản đối lối tổ chức giáo quyền hàng dọc của Giám Lý, ly khai giáo hội này, tự lập ra một mục vụ riêng, độc lập với các giáo phái và thành lập Trường Thánh Kinh Bethel.

Vào đêm tất niên năm 1900, Parham đang giảng cho các sinh viên tại Trường Thánh Kinh Bethel, một nữ sinh viên tên là Agnes Ozman, đã dạn dĩ đứng lên yêu cầu ông đặt tay trên cô và cầu nguyện xin Chúa đổ Thánh Linh xuống trên cô. Parham đáp ứng lời yêu cầu này và lập tức Ozman bắt đầu nói tiếng Trung Hoa.

Vài ngày sau, chính Parham cũng nói được một ngoại ngữ mà ông chưa hề biết. Rồi sau đó là các sinh viên khác. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, ngày đầu tiên của thế kỷ 20, Parham thành lập Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ (Apostolic Faith) và bắt đầu đi khắp nơi rao giảng về sự thánh khiết, sự chữa lành thiên thượng, sự chữa lành bởi đức tin, sự đặt tay cầu nguyện, sự thánh hóa bởi đức tin, và tuyên bố “speak in tongues” (nói ngoại ngữ) là dấu hiệu của sự được báp-tem bằng Thánh Linh và bằng lửa (?) [1]. Đến cuối năm 1901, hiện tượng “speak in tongues” trong Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ được báo chí đưa tin, bàn thảo sôi nổi, xem như là dấu hiệu của Lễ Ngũ Tuần lần thứ hai. Điểm cần ghi nhớ: Đây là sự kiện các tín đồ bỗng nhiên nói thông thạo một ngoại ngữ, không phải là sự lấp ba lấp bấp một tràng âm thanh vô nghĩa như những người “nói tiếng lạ” ngày nay.

Năm 1905, Parham mở một Trường Thánh Kinh tại Houston, Texas và một người da đen tên là William Joseph Seymour được đào tạo tại đó. Trong suốt thời gian ở tại Houston, Seymour không biết “speak in tongues.” Tháng 2 năm 1906, Seymour được mời giảng tại Los Angeles về đề tài “Phép Báp-tem Bằng Thánh Linh.” Buổi giảng đầu của ông gây nên nhiều xáo trộn, là vì ông tuyên bố “speak in tongues” là dấu hiệu của sự đã được báp-tem bằng Thánh Linh, trong khi ông lại không biết “speak in tongues.” Đến tháng 4 năm đó, một người nghe ông giảng tên là Edward Lee bỗng nhiên phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa và sau đó vài ngày đến lượt Seymour. Họ xem như đó là ân tứ “speak in tongues” mặc dầu đó chỉ là những tràng âm thanh vô nghĩa.

Tháng 5 năm 1906, Seymour trở thành lãnh tụ của Phong Trào “Azusa Street Revival,” một phong trào không phân biệt giáo phái, chủng tộc, hoặc giới tính. Thuở ấy, mỗi ngày từ 10 giờ sáng cho đến khoảng hai, ba giờ sáng hôm sau, vô số người từ các nơi kéo về tụ hội ca hát, la hét lớn tiếng, nhảy múa, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, kêu khóc, tru, rống như thú vật, và “nói tiếng lạ.” Các giới lãnh đạo tôn giáo vùng Los Angeles và những nơi khác lập tức lên tiếng phủ nhận hiện tượng đang xảy ra tại Black Holiness Church, 312 Azusa Street, Los Angeles. Họ không công nhận đó là công việc của Đức Thánh Linh, khuyến cáo các tín hữu của họ, rằng phong trào này chạy theo cảm xúc, thông linh, và có Sa-tan tính.

Vào tháng 10 năm 1906, khi Parham đến thăm Seymour và giảng tại Azusa Street, cũng đã sững sốt khi nhìn thấy các hiện tượng xảy ra tại đó. Theo Parham, những hiện tượng đó đến từ xác thịt, hoặc Ma Quỷ. Parham không công nhận phong trào “Azusa Street Revival.” Parham đã phát biểu về phong trào này như sau: “God is sick at His stomach!” (Tạm dịch: Đức Chúa Trời đang buồn nôn!) Sau đó, Parham và Seymour đã chia tay nhau và không bao giờ kết hợp trở lại.

Tại đây, chúng ta cần chú ý đến chi tiết quan trọng này: Trong khi Parham và các sinh viên của ông được ơn nói lưu loát các ngoại ngữ mà trước đó họ không hề biết , thì Seymour và những người theo ông chỉ phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa, và có những biểu hiện cười, la, khóc, hú, vật vã thân hình không tự kiểm soát được như những người bị tà linh xâm nhập.

Phong trào “Azusa Street Revival” lắng xuống vào năm 1909 nhưng vẫn còn âm ỉ cho đến năm 1915. Từ phong trào này phát sinh ra nhiều giáo phái Ngũ Tuần khắp nơi trên thế giới. Người từ các nơi khác đến Los Angeles thăm viếng, khi trở về quê hương của họ đã mang theo các tín lý mới của Ngũ Tuần, gieo rắc trong cộng đồng của họ.

Kỳ 3

Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement)

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần – Mục sư Huỳnh Christian Timothy

384 views

Thưa quí vị:

Trước khi đề cập đến Phong Trào Ngũ Tuần và Ân Tứ tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại sau năm 1975, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu nguồn gốc của các giáo hội này. Sau đây, mời quí vị theo dõi bài viết của Mục sư Huỳnh Christian Timothy, vì bài viết khá dài, chúng tôi sẽ chia ra nhiều kỳ để quí vị dễ dàng theo dõi và nghiên cứu.  Hình ảnh do Tòa Soạn sưu tầm.

Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

                                                            Kỳ 1

Dẫn Nhập

Kể từ thập niên 1960 cho đến nay, một phong trào phát sinh từ trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo được gọi là “Phong Trào Ân Tứ,” đã trở nên lớn mạnh và xâm nhập sâu rộng vào trong Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi. Phong Trào Ân Tứ (Charismatic Movement – 1906) thoát thai từ Phong Trào Ngũ Tuần (Pentecostal Movement – 1901).

Theo thống kê vào năm 2003, số người thuộc hai phong trào này lên đến khoảng 700 triệu, nghĩa là chiếm khoảng 33% tổng số những người xưng nhận có đức tin trong Đấng Christ (Christians – bao gồm Chính Thống Giáo, Công Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành Giáo) trên toàn thế giới. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần mang lại nhiều tranh luận cũng như phân rẽ trong Hội Thánh. Nhiều giáo phái lớn trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo đã thành lập những ban nghiên cứu. Ngay cả, người ngoại đạo cũng thành lập các ban nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý trong sự kiện chữa bệnh và nói tiếng lạ của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Nếu nhìn một cách khách quan thì có thể nói Ân Tứ với Ngũ Tuần chỉ là một. Ngũ Tuần như là gốc và thân chính của một cây với vài nhánh lớn, Ân Tứ như là những nhánh nhỏ phát sinh từ những nhánh lớn của Ngũ Tuần. Những hoa, lá, cành nhiều khi che lấp cả thân cây, vì thế, ngày nay thế giới biết nhiều đến Ân Tứ hơn là Ngũ Tuần.

Dấu hiệu đặc trưng của Phong Trào Ân Tứ là sự “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ.” Người Ân Tứ tin rằng, khi một người nhận được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết “nói tiếng lạ” và khi một người được đầy dẫy Thánh Linh thì bị té ngã mà họ gọi là “bị giết trong Thánh Linh” (slain in the Spirit). Hiện tượng “té ngã” khi được đầy dẫy Thánh Linh là điều không hề được ghi lại trong Thánh Kinh. Tiếng lạ mà những người Ân Tứ và Ngũ Tuần nói không phải là ngôn ngữ có người hiểu được, như Thánh Kinh đã ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương hai, mà là một thứ âm thanh không có cấu trúc của ngôn ngữ và cũng không có ai hiểu.

Từ ngữ “nói các thứ tiếng khác” trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 được dịch sang tiếng Anh là “speak in other tongues.” Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp (Greek) của Thánh Kinh là:
 λαλειν, G2980, phiên âm quốc tế /laleō/, phiên âm tiếng Việt [la-lé-ồ], có nghĩa là: phát âm, nói.
 ετεραις, G2087, phiên âm quốc tế /heteros/, phiên âm tiếng Việt [hé-tơ-ro-s], có nghĩa là: khác.
 γλωσσαις,G1100, phiên âm quốc tế /glōssa/, phiên âm tiếng Việt [g-lố-xà], có nghĩa là: các ngôn ngữ.

Thánh Kinh không bao giờ nói đến một thứ “tiếng lạ.” Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dịch không chuẩn khi dịch γλωσσαις(các ngôn ngữ) thành “tiếng lạ.”

Lược sử các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần dấy lên trong lịch sử của Hội Thánh kể từ ngày đầu tiên của thế kỷ 20 và kéo dài cho đến nay đã tạo ra nhiều ảnh hưởng sâu đậm cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh. Sự tìm hiểu về các phong trào này thường khiến cho người ta đối diện với hai vấn đề:

1. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Ngũ Tuần.
2. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Ngũ Tuần, và các giáo phái Tin Lành truyền thống.

Để giảm thiểu những khó khăn dẫn đến sự rối trí trong khi theo dõi bài này, độc giả cần ghi nhớ các điểm quan trọng sau đây:

Danh từ Phong Trào Ngũ Tuần được dùng để gọi sự kiện “nói tiếng lạ” xuất hiện trong một cộng đồng Cơ-đốc nhân thuộc Giáo Hội Tin Lành, làm phát sinh ra một giáo phái mới trong Giáo Hội Tin Lành gọi là Giáo Phái Ngũ Tuần. Giáo Phái Ngũ Tuần theo thời gian phân nhánh ra thành nhiều tiểu giáo phái. Có thể ví Phong Trào Ngũ Tuần như một trong những cây con nảy ra từ gốc của cây mẹ (Giáo Hội Tin Lành), sau đó, từ gốc của cây con đó lại nảy ra nhiều cây con khác nữa.

Danh từ Phong Trào Ân Tứ được dùng để gọi sự kiện “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ” xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo. Phong trào này thoạt đầu không tách rời khỏi các giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng khi đã phát triển mạnh mẽ thì tự hình thành các giáo phái. Phong Trào Ân Tứ ví như những trái cây phát sinh ra trên khắp các nhánh của một thân cây (Cơ-đốc Giáo, bao gồm các giáo hội Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Công Giáo, Tin Lành…) khi chín mùi thì rụng xuống và mọc lên thành những cây mới.

Danh từ Phong Trào Dấu Lạ được dùng để gọi sự kiện những dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo mà không nhất thiết phải có hiện tượng “té ngã” và “nói tiếng lạ” kèm theo. Trên một phương diện, Phong Trào Dấu Lạ cũng chính là một Phong Trào Ân Tứ nhưng không chủ trương đề cao việc “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ” cho bằng việc đề cao dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong khi giảng đạo.

Danh từ “trường phái” nói đến những khuynh hướng khác nhau trong cùng một phong trào. Thí dụ: Phong Trào Ngũ Tuần có mẫu số chung là “nói tiếng lạ” và tin rằng hiện tượng “nói tiếng lạ” là dấu hiệu của một người được báp-tem bằng Thánh Linh. Tuy nhiên, có ba khuynh hướng khác nhau về ý nghĩa của hiện tượng “nói tiếng lạ,” khiến cho phân chia thành ba trường phái khác nhau. Có thể nói, phong trào là gốc cây chính, trường phái là các cây khác nảy ra từ gốc cây chính.

Danh từ “làn sóng” do Phong Trào Dấu Lạ đặt ra để tự phân biệt với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần. Theo họ, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Đức Thánh Linh đã ba lần phục hưng Hội Thánh mà họ gọi là “những làn sóng phục hưng” (the revival waves). Họ xem Phong Trào Ngũ Tuần là làn sóng thứ nhất, Phong Trào Ân Tứ là làn sóng thứ hai, và họ là làn sóng thứ ba.

Nhìn theo quan điểm của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần Tin Lành thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần được phân biệt như sau:

The Apostolic Faith Mission on Azusa Street, now considered to be the birthplace of of Pentecostalism

 

Charles Fox Parham, who associated glossolalia with the baptism in the Holy Spirit

Seymour, leader of the Azusa Street Revival

1. Làn sóng thứ nhất: Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement) khởi động bởi Charles Fox Parham tại Topeka, Kansas, USA vào năm 1901 và phát triển bởi William Joseph Seymour tại Los Angeles, California, USA vào năm 1906.

2. Làn sóng thứ nhì: Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement) còn được gọi là Phong Trào Ân Tứ Phục Hưng (Charismatic Renewal Movement) khởi động bởi Dennis Bennett tại Van Nuys, California, USA vào năm 1960.

Hiện tượng té ngã và có những người  đứbg phía sau chuẩn bị đỡ nâng

 

Praise and Worship during a CCR Healing Service.Praise and Worship during a CCR Healing Service.

3. Làn sóng thứ ba: Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) khởi động bởi John Wimber từ Trường Thần Học Fuller (Fuller Theological Seminary) tại Pasadena, California, USA vào năm 1981.

John Richard Wimber (February 25, 1934 – November 17, 1997)

Nhìn khách quan về lịch sử của Cơ-đốc Giáo thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phải được chia ra làm bốn làn sóng, bao gồm Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement) khởi động giữa các sinh viên và nhân sự của Trường Đại Học DuQuesne tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA vào năm 1967.

                   Kỳ sau: Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement)

Khói Nhang Hương Vô Cùng Độc Hại – Sưu Tầm

271 views


Các chuyên gia cho biết, giống như khói thuốc lá, khói than, khói hương (nhang) có chứa các hoạt chất độc hại như benzen, toluene, xylenes…. Khói hương, vốn là thứ khói có mùi thơm quyến rũ, là nguyên nhân trực tiếp sẽ kích ứng đường hô hấp, có thể dẫn đến ung thư hoặc tử vong.

  

“Tử” vì đốt nhiều hương nhang

Bác sĩ  Hoàng Xuân Đại, nguyên chuyên gia cao cấp của Bộ Y tế tại Việt nam cho biết rằng nhiều người có quan niệm sai lầm: khói hương nhang không gây độc. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bất cứ cái gì sinh ra khói đều độc.

Ví dụ, rơm rạ khi cháy âm ỉ sẽ sinh ra dioxit lưu huỳnh, clo, kim loại nặng, amoni… trong khói than đá có benzen, CO2. Đây được cho là những chất rất độc có thể gây ung thư.

Trong hương nhang bình thường, thành phần tạo mùi thơm là những hợp chất benzen. Khi đốt cháy, chất độc sẽ kích thích tác động liên kết bề mặt của đường hô hấp dẫn đến viêm hô hấp mãn tính, phá hủy các tổ chức cơ thể dẫn đến biến đổi tế bào, biến đổi gen gây ra các hiện tượng dị sản, loạn sản. Khi là tế bào ác tính chúng sẽ biến thành tế bào ung thư.

“Chỉ vì cho đến thời điểm này chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của khói hương nhang tới sức khoẻ. Chính vì thế mà nhiều người chủ quan, xử dụng bừa bãi và thiếu hiểu biết về hương”, Bác sĩ Hoàng Xuân Đại nói.

Đồng quan điểm, Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Lê Hùng, Phân khoa Hoá học Đại học Quốc gia Hà nội cho biết: thực tế hương ngày xưa không độc hoặc rất ít độc vì người ta xử dụng gỗ hương liệu là gỗ trầm. Bản chất của hương liệu này còn sát trùng và tạo sự hưng phấn. Khi đốt, hương nhang sẽ tỏa hương thơm không gây hại.  Với một lượng nhỏ, hương trầm còn kích thích sự hưng phấn của con người. Tuy nhiên, ngày nay người ta xử dụng nhiều tạp chất để làm hương nên phẩm chất hương kém đi.

Ngoài bột quế và hoa ngâu, người ta cho vào đó chính yếu là mùn cưa phế phẩm. Trong khi làm hương nhang thì không ai biết mùn cưa là của loại gỗ nào, khi đốt lên có gây độc không. Có nhiều loại cây mùi rất khó chịu.

Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Lê Hùng nhấn mạnh, ở trong những nơi thờ cúng, đình chùa… thường có diện tích nhỏ, đốt hương nhiều có nghĩa là CO2 sinh ra nhiều, chất độc vì thế mà cũng nhiều.

Các nghiên cứu cho thấy, khói độc còn có thể có từ nến, các loại nhựa polyetylen, khói cháy rừng… Hầu hết các vật liệu có thể cháy đều sinh ra khói độc. Lâu ngày, chúng có thể tích tụ thành các đám mây độc gây ô nhiễm không khí và tổn hại đến sức khoẻ.

Điều đáng nói, tại các ngôi chùa, trong một số nghi lễ, hàng nghìn que hương thường được đồng loạt đốt lên, hoặc nhiều gia đình khi thắp hương nhang hay đóng kín cửa khiến cho khói hương bị tụ lại một chỗ.

Hít phải khói hương, nhẹ có thể ho, chảy nước mắt… Nếu hít nhiều, những nguy cơ tiềm ẩn là rất lớn.

Mở cửa thoáng khi đốt hương

Các chuyên gia khuyên, nếu có dấu hiệu ho, sặc, khó thở… trong những vùng có nhiều khói thì phải ra ngay khỏi khu vực đó để tìm không khí thở an toàn khác.

Đối với các  gia đình, khi thắp hương nhang, tuyệt đối không được đóng cửa, phải luôn mở cửa thoáng để khói hương không bị tụ lại một chỗ. Cần tránh cho người già và trẻ em tiếp xúc với khói hương. Họ là những đối tượng có sức cảm nhiễm thấp, mức hấp thụ lớn mà sự chống đỡ lại kém dẫn đến sức đề kháng không tốt nên rất dễ bị nhiễm độc.

Cuối năm, dịp lễ tết… không nên đưa các cháu đến những nơi có nhiều khói hương như chùa chiền, lễ hội.

Ý Kiến:

Tín hữu Tin lành không bao giờ đốt hương nhang tại tư gia hoặc tại nhà thờ khi Thờ phương Thiên Chúa.

 

Nhạc phẩm “Serenade” – Nhạc Cổ Điển của Franz Schubert

272 views

Tiếng Đàn Dương Cầm của Nhạc sư  Linh Phương

Mời quí vị nghe tiếng đàn dương cầm tuyệt vời, hòa âm và phần Intro độc đáo của Nhạc sư Dương cầm Linh Phương, tốt nghiệp khóa đầu tiên tại Viện Quốc gia Âm nhạc Thủ đô Saigon năm 1967.

Giáo sư Âm nhạc Linh Phương hiện là Music Director tại Hội Thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam tại Houston, Texas.

Nhạc phẩm “Serenade”  –  Nhạc cổ điển của Franz  Schubert – Lời Việt.

Người hát:  Phương Nam là nhạc sinh do Giáo sư Linh Phương đào tạo.

 

Ha-Ba-Cúc Người Vật Lộn với Thiên Chúa – Mục sư Nguyễn Hữu Ninh

325 views

1 Nầy là gánh nặng mà đấng tiên tri Ha-ba-cúc đã xem thấy. 2 Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi kêu van mà Ngài không nghe tôi cho đến chừng nào? Tôi vì cớ sự bạo ngược kêu van cùng Ngài, mà Ngài chẳng khứng giải cứu tôi! 3 Nhân sao Chúa khiến tôi thấy sự gian ác, và Ngài nhìn xem sự ngang trái? Sự tàn hại bạo ngược ở trước mặt tôi; sự tranh đấu cãi lẫy dấy lên. 4 Vậy nên luật pháp không quyền, sự chánh trực không hề tỏ ra. Kẻ hung ác vây chung quanh ngươi công bình, vì cớ đó sự xét đoán ra trái ngược. 5 Hãy nhìn trong các nước và xem, hãy lấy làm lạ và sững sờ! Vì ta đang làm ra trong ngày các ngươi một việc, mà dầu có ai thuật lại cho các ngươi, các ngươi cũng không tin. 6 Nầy, ta khiến người Canh-đê dấy lên, nó là một dân dữ tợn lung lăng, hay đi khắp đất đặng chiếm lấy những chỗ ở không thuộc về mình. 7 Nó thật là đáng sợ và đáng ghê, oai nghi và sự phán xét của nó đều là từ nó mà đến. 8 Những ngựa nó nhặm lẹ hơn con beo, và hung hơn muông sói ban đêm. Những lính kỵ nó tràn khắp đây đó, những lính kỵ nó đến từ phương xa; chúng nó bay như chim ưng lẹ, nôn nả kiếm ăn. 9 Cả dân ấy đến đặng làm sự bạo ngược; chúng nó mạnh dạn đi thẳng tới, và dồn phu tù lại như cát. 10 Nó nhạo cười các vua, chế báng các quan trưởng, và chê cười mỗi đồn lũy: nó đắp lũy, rồi chiếm lấy. 11 Bấy giờ nó sẽ sấn tới như gió thổi qua; vì nó lấy sức mạnh mình làm thần mình, nên phạm tội trọng. 12 Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Đấng Thánh của tôi! Ngài há chẳng phải là từ đời đời vô cùng sao? Vậy chúng tôi sẽ không chết! Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã lập dân nầy đặng làm sự xét đoán của Ngài. Hỡi vầng Đá! Ngài đã đặt nó đặng làm sự sửa phạt! 13 Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi? 14 Sao Ngài khiến loài người như cá biển và như loài côn trùng vô chủ? 15 Nó đã dùng lưỡi câu móc lấy cả, thâu góp trong chài mình, và nhóm lại trong lưới mình, vậy nên nó vui mừng và lấy làm thích. 16 Vì cớ đó, nó dâng tế cho lưới, đốt hương cho chài, bởi chưng nó nhờ đó mà được phần béo tốt và của ăn dư dật. 17 Có lẽ nào nó cứ đổ lưới mình ra đặng làm sự giết lát các dân không hề thôi sao? 1 Nầy là gánh nặng mà đấng tiên tri Ha-ba-cúc đã xem thấy. 2 Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi kêu van mà Ngài không nghe tôi cho đến chừng nào? Tôi vì cớ sự bạo ngược kêu van cùng Ngài, mà Ngài chẳng khứng giải cứu tôi! 3 Nhân sao Chúa khiến tôi thấy sự gian ác, và Ngài nhìn xem sự ngang trái? Sự tàn hại bạo ngược ở trước mặt tôi; sự tranh đấu cãi lẫy dấy lên. 4 Vậy nên luật pháp không quyền, sự chánh trực không hề tỏ ra. Kẻ hung ác vây chung quanh ngươi công bình, vì cớ đó sự xét đoán ra trái ngược. 5 Hãy nhìn trong các nước và xem, hãy lấy làm lạ và sững sờ! Vì ta đang làm ra trong ngày các ngươi một việc, mà dầu có ai thuật lại cho các ngươi, các ngươi cũng không tin. 6 Nầy, ta khiến người Canh-đê dấy lên, nó là một dân dữ tợn lung lăng, hay đi khắp đất đặng chiếm lấy những chỗ ở không thuộc về mình. 7 Nó thật là đáng sợ và đáng ghê, oai nghi và sự phán xét của nó đều là từ nó mà đến. 8 Những ngựa nó nhặm lẹ hơn con beo, và hung hơn muông sói ban đêm. Những lính kỵ nó tràn khắp đây đó, những lính kỵ nó đến từ phương xa; chúng nó bay như chim ưng lẹ, nôn nả kiếm ăn. 9 Cả dân ấy đến đặng làm sự bạo ngược; chúng nó mạnh dạn đi thẳng tới, và dồn phu tù lại như cát. 10 Nó nhạo cười các vua, chế báng các quan trưởng, và chê cười mỗi đồn lũy: nó đắp lũy, rồi chiếm lấy. 11 Bấy giờ nó sẽ sấn tới như gió thổi qua; vì nó lấy sức mạnh mình làm thần mình, nên phạm tội trọng. 12 Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Đấng Thánh của tôi! Ngài há chẳng phải là từ đời đời vô cùng sao? Vậy chúng tôi sẽ không chết! Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã lập dân nầy đặng làm sự xét đoán của Ngài. Hỡi vầng Đá! Ngài đã đặt nó đặng làm sự sửa phạt! 13 Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi? 14 Sao Ngài khiến loài người như cá biển và như loài côn trùng vô chủ? 15 Nó đã dùng lưỡi câu móc lấy cả, thâu góp trong chài mình, và nhóm lại trong lưới mình, vậy nên nó vui mừng và lấy làm thích. 16 Vì cớ đó, nó dâng tế cho lưới, đốt hương cho chài, bởi chưng nó nhờ đó mà được phần béo tốt và của ăn dư dật. 17 Có lẽ nào nó cứ đổ lưới mình ra đặng làm sự giết lát các dân không hề thôi sao?

Hab. 1:1-17

Bối cảnh Lịch sử

Khi đạo hùng binh của Đế quốc Ba-by-lôn xâm lăng Thủ đô Giê-ru-sa-lem, bắt các chàng trai trẻ Do-thái mang về làm phu tù, trong số ấy có Đa-ni-ên, về sau ông là một tiên tri lớn.

Năm 608-597 TC, Hoàng đế Giê-hô-gia-kim của Vương quốc Giu-đa làm điều gian ác là thờ thần tượng, vua này đã được các tiên tri cảnh cáo trong số có Giê-rê-mi. Sứ điệp của Chúa đã được truyền rao, nhưng lòng vua vẫn cứng cỏi, ông lại còn ra mặt chống đối Thiên Chúa bằng cách tống tiên tri Giê-rê-mi vào ngục tối. Và những sách do Giê-rê-mi nhờ chàng trai Ha-ba-cúc chép đã bị ném vào lò lửa. Sách Giê-rê-mi 31:33 đã đề cập đến việc ghi chép Lời Chúa vào lòng để không bị ai thiêu hủy.

Vào thời Ha-ba-cúc, đời sống tâm linh của dân sự đã được tóm lược:

Ch. 1 – C. 2b-4: Tình trạng bất công thối nát trong đời trị vì của Vua Giê-hô-gia kim.

Năm 612-589 TC: Suốt 23 năm từ khi Đế quốc Ba-by-lôn thắng Đế quốc A-sy-ri rồi chiếm Thủ đô Ni-ni-ve cho đến khi Vương quốc Giu-đa bị xâm lăng, Thủ đô Giê-ru-sa-lem bị thiêu đốt vào năm 589 TC. Đó là giai đoạn bi thảm mà Ha-ba-cúc đã trải qua. Cũng là thời gian ông đứng lên rao giảng sứ điệp của Thiên Chúa trong giai đoạn vô cùng tối tăm này.

Từ năm 612 TC, Ha-ba-cúc đã được nghe nói đến những cuộc chinh phạt liên tục của đạo quân Ba-by-lôn mạnh mẽ như nước lũ lụt vở bờ5-11: Ha-ba-cúc sững sốt trước các biến cố chính trị, xã hội, quân sự xảy đến dồn dập. Trước đây, tại Giê-ru-sa-lem ông ở trong ca đoàn Lê-vi để ca hát thờ phượng Chúa. Nay trong lòng ông mang một gánh nặng lớn lao. Ha-ba-cúc 1:1.  Nầy là gánh nặng mà đấng tiên tri Ha-ba-cúc đã xem thấy. 1 The burden which Habakkuk the prophet did see1

Từ ngữ “Gánh nặng” thường được các tiên tri dùng đến có ý nghĩa ngăm đe, cảnh cáo. Trường hợp của Ha-ba-cúc, ngoài ý nghĩa vừa kể, chữ gánh nặng đây còn chỉ về một “gánh nặng đè trên dân tộc Do-thái”. Ha-ba-cúc nhận thức được rằng mình quá bé nhỏ, yếu ớt, khả năng thật tầm thường. Ha-ba-cúc, đã dâng tấm lòng và đời sống mình lên Chúa để Chúa xử dụng. Và khi Ha-ba-cúc biết rằng mình đang bị gánh nặng đè bẹp thì ông dạn dĩ đến với Chúa. Ha-ba-cúc thành khẩn trình bày nan đề để cầu xin Chúa giải quyết những thắc mắc ưu tư. Về phương diện tâm linh, các nhà giải kinh nói rằng Ha-ba-cúc đã “Vật lộn với Thiên Chúa.”

An 18th-century Russian icon of the prophet HabakkukAn 18th-century Russian icon of the prophet HabakkukAn 18th-century Russian icon of the prophet HabakkukAn 18th-century Russian icon of the prophet Habakkuk

Danh tính Ha-ba-cúc (Hi-bá-lai) dịch là “Embrace” trong English, “cái ôm choàng” qua thân thể của một đối thủ trong môn đô vật. Sách Ha-ba-cúc có 3 chương:

Chương 1:1 : Gánh nặng mà Ha-ba-cúc nhìn và cảm thấy.

Ch. 2: 2: Chúa đáp lại và bảo ông hãy ghi chép khải tượng.

Ch. 3: 1 – : Bài cầu nguyện theo thể thi ca.

Nếu chúng ta quên hết sách Tiên tri Ha-ba-cúc thì chỉ cần nhớ đến các từ ngữ ngắn gọn: “Gánh nặng, Khải tượng, và cầu nguyện” thì chúng ta sẽ nhớ đến toàn bộ sách Tiên tri Ha-ba-cúc. Ha-ba-cúc mô tả những thắc mắc về gánh nặng ưu tư trong lòng, Chúa đã cho ông nhìn thấy khải tượng và ông ca tụng Chúa.

Bố Cục:

Ch. 1: 1-4

Ha-ba-cúc khiếu nại với Chúa về những bất công, tham nhũng, áp bức, gian ác, trái ngang, tranh cạnh… trong Vương quốc Giu-đa. Ông nêu lên thắc mắc thứ nhất: Nhân dân Do-thái sống dưới cảnh áp bức bởi vua quan. Ông hỏi: Sao Chúa lại bỏ qua ? Chúa chí công chí minh, nhưng sao Chúa lại chậm trễ trừng phạt kẻ gian ác khi họ lcứ mãi làm điều trọng tội liên tục trong đền thờ Giê-ru-sa-lem ?

I-            Ch. 1: 5-11:

Chúa giải đáp thắc mắc thứ nhất của Ha-ba-cúc: Thiên Chúa thưởng phạt công minh, Chúa dùng quân lực của Canh-đê tức Ba-by-lôn như là ngọn rọi quất vào dân Do-thái. Chúa báo cho ông biết rằng đạo quân bách chiến bách thắng Ba-by-lôn sắp xâm chiếm Do-thái.

   III- Ch. 1:12-17: Ha-ba-cúc thỏa mãn về lời giải đáp của Thiên Chúa, Ngài sắp giải quyết nan đề mà ông đã nêu lên. Tuy nhiên, Ha-ba-cúc lại nêu thêm thắc mắc nữa dù Chúa đã giải đáp. Thắc mắc nảy ra thắc mắc khác. Ha-ba-cúc hỏi Chúa: Sao Chúa lại dùng một dân hung ác, bạo ngược để trừng trị dân Do-thái? À ! Chúa sửa phạt tuyển dân, đồng ý vì Chúa công minh, nhưng sao Chúa lại dùng một dân hung hãn, bạo tàn hơn dân tộc tôi để trị tội ? Ch. 1: 12-17.

Thắc mắc của Ha-ba-cúc: Lẽ nào Chúa lại để đạo binh Ba-by-lôn quăng ra mẻ lưới lớn để tóm bắt và giết cả dân tộc tôi ?

     IV-Ch. 2:1-4: Diễn tả sự khiếu nại của Ha-ba-cúc để đòi hỏi Chúa bày tỏ công lý nơi vọng canh. Thiên Chúa giải đáp thắc mắc thứ hai:

Chúa dùng phương pháp khác nhưng không là lý luận. Chúa trả lời nan đề này bằng khải tượng. Chúa bảo ông hãy ghi chép khải tượng vì khải tượng ấy sẽ thành hình trong một giai đoạn nhất định sẽ đến. Chúa biết tánh khí của Ha-ba-cúc nóng nảy, hay thắc mắc. Chúa bảo ông hãy kiên nhẫn chờ đợi vì khải tượng chắc chắn sẽ đến.

Ch. 2: Ha-ba-cúc được Chúa ban cho một khải tượng đặc biệt hiếm có. Ha-ba-cúc 2:4 “Người công nghĩa sống bởi đức tin”. Thường thường, các tiên tri Do-thái đã được Chúa ban cho một khải tượng kỳ thú, nhưng Ha-ba-cúc đã được Chúa ban cho một khải tượng có vẻ khó hiểu gồm hai phương diện:

a-Tiêu cực: Một cảnh trạng vô cùng tăm tối: La-mã 1:29-32 đề cập đến tâm địa của con người, một sự thật ghê rợn khủng khiếp về lòng dạ của con người. Điều này cũng soi tỏ thêm về sự bạo tàn của Đế quốc Ba-by-lôn. Dân Do-thái thì có lòng dạ gian ngoa, Thiên Chúa đã cho Ha-ba-cúc nhìn thấy tâm địa thật của con người là thế đấy! Không phân biệt chủng tộc, quốc gia nào, không có dân nào tốt đẹp hơn dân nào! Xem tin tức báo chí, TV, Radio thì rõ, mỗi dân có đặc tính riêng, tự hào riêng, lòng dạ con người trước mặt Chúa đầy dẫy sự tự phụ, kiêu hãnh, bất minh. Con người có dáng vẻ bên ngoài khiêm tốn; tuy nhiên, con người bề trong thì lên mình kiêu ngạo trước Chúa và với đồng loại. Hằng ngày, con ngườ đã hưởng được đủ dưỡng khí do Thiên Chúa ban, có vật thực để sống. Thế mà con người đã lớn tiếng tuyên bố “Thiên Chúa đã chết!”

Con người tỏ ra sự kiêu ngạo với người chung quanh, lấy mình làm tiêu chuẩn để đo đạc người khác, cho là những người ấy thua sút, thiếu kém hơn ta. Họ kém hơn mình, đáng bị chê trách hơn, khi 1 ngón tay chỉ đến người khác thì đã có 4 ngón chỉ vào chính mình rồi. Ta nghĩ rằng mình thánh thiện, đạo đức hơn người chung quanh, đấy là lúc ta đang đi trong con đường kiêu ngạo tâm linh. Chúng ta đã quên rằng con người mình thật vô cùng tệ hại trước tiêu chuẩn đạo đức, thánh khiết của Thiên Chúa mà không nhận ra rằng mình đang đóng kịch thiếu chân thành.

Văn hào Jean Paul Sartre đã viết về cuộc đời mình trong quyển tự thuật:

“Từ thuở bé, bố mẹ ông là những người đi lễ tại nhà thờ, ông mô tả về sự đóng kịch tôn giáo của những người trong gia đình. Đi lễ xong và trở về nhà thì có những sinh hoạt tỏ ra dường như rất tin kính nhưng đó chỉ là cái áo khoác che tội lỗi để đóng kịch trước mắt bao nhiêu người chung quanh. Jean Paul Sartre đã nhìn thấy bề trái thế nào… Do đó, cậu bé J.P. Sartre không thể nào tin Chúa vì ông nghĩ rằng tin như thế chỉ là sự giả dối…”

Nếu ngày hôm nay, những tín hữu của Chúa Jêsus Christ có nếp sống đạo như bố mẹ của J.P. Sartre thì thế nào các con cái của mình có thể tin Chúa được ? Chúng ta không để hình ảnh của Chúa sống trong đời sống mình qua lời nói, hành động thì làm thế nào người chung quanh có thể nhìn thấy sự chân thành, ngay thẳng.

Đó là khải tượng mà Thiên Chúa đã cho Ha-ba-cúc nhìn thấy.

 

Nữ tỉ phú cho người hành khất thẻ ngân hàng

289 views

Đây là câu chuyện của một nam hành kht kể lại. Tấm lòng lương thiện của cô gái đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời anh.

Đang đi trên đường thì có một người hành khất tiến lại gần và xin tiền thì liệu bạn có cho họ không? Hay bạn chỉ cho họ một ít theo phản xạ của bản thân. Và có bao giờ, bạn nghĩ sẽ cho người ăn xin đó một chiếc thẻ ngân hàng để họ tự đi rút tiền, càng quan trọng hơn, chiếc thẻ đó không có mật khẩu.

Chắc chắn ai cũng thốt lên rằng: “Không bao giờ xảy ra trường hợp như thế?”  Nhưng bạn đọc câu chuyện này, sẽ có điều bất ngờ trái ngược với suy nghĩ của bạn đấy.

Cô Harris là một nhân viên cao cấp của công ty quảng cáo nổi tiếng thuộc thành phố New York. Vào một ngày tháng 8 năm 2010, cô đang cùng bạn bè ăn trưa tại một nhà hàng thì một người bạn của cô muốn mua ít đồ dùng, thế là hai người lên tiếng muốn ra đi trước. Khi họ đang đi bên đại lộ thì có một người tiến lại gần  cô, với một giọng nói yếu ớt giới thiệu về mình: “Tôi tên là Valentine, 32 tuổi, thất nghiệp đã 3 năm rồi, chỉ dựa vào việc ăn xin để sống qua ngày.

Tôi muốn nói là liệu cô có thể bằng lòng giúp tôi được không? Ví dụ bố thí cho tôi vài đồng bạc lẻ để tôi có thể mua một chút đồ dùng hàng ngày”. Nói xong anh ta nhìn cô với đôi mắt đầy kỳ vọng.

q1

Cô động lòng thương nhìn chàng da đen trẻ tuổi đang đứng trước mặt mình rồi nói: “Không có vấn đề, tôi rất sẵn lòng giúp đỡ anh”. Bàn tay cô đưa vào túi áo tìm tiền, nhưng hôm nay cô lại chẳng có mang theo tiền mặt, và chỉ có duy nhất một thẻ tín dụng ngân hàng. Cô có chút ngần ngại lấy thẻ ra nhưng vẫn chưa biết nên ứng xử như thế nào?

Chàng hành khất hiểu được sự khó xử của cô, liền nhỏ nhẹ nói: “Nếu cô tin tôi thì có thể để tôi dùng chiếc thẻ này và sau đó tôi sẽ mang trả cô ngay không?” Vốn tính lương thiện và dễ tin người, cô Harris đưa ngay chiếc thẻ cho người ăn xin.

Sau khi cầm thẻ trên tay, Valentin không đi ngay mà cầu khẩn Harris: “Ngoài việc mua một số món cần thiết  tôi có thể mua thêm một bình nước không?”

Harris nói: “Hoàn toàn có thể, nếu anh cần hãy cứ dùng tiền trong đó mà mua”.

Chàng hành khất  đi rồi, cô và bạn quay trở về công ty làm việc. Ngồi làm việc chưa lâu, cô bắt đầu suy nghĩ   có chút hối hận, buồn bã rồi quay sang nói với bạn: “Thôi chết, thẻ tín dụng của mình không những không cài mật khẩu. Người đàn ông đó chắc chắn đã chạy mất rồi. Lần này đúng là xui xẻo hết mức.”

Nghe được lời tâm sự của cô, đồng nghiệp cô trách móc: “Sao cậu có thể dễ dàng tin tưởng tuyệt đối vào một người lạ mặt như vậy được. Là cậu ngây thơ hay ngốc nghếch vậy, đúng là lương thiện quá đáng”.

Cô không còn tâm trạng để làm việc tiếp được nữa, nhờ bạn xin xếp là cô ra ngoài có tí việc rồi cô đi vội  ngay đến đại lộ lúc nãy, nơi mà cô đưa thẻ ngân hàng cho chàng da đen. Điều mà cô không ngờ, khi vừa bước chân đến thì cô nhìn thấy chàng da đen đang đứng đợi ở đó.

Trên tay anh ta vẫn còn cầm thẻ tín dụng của cô, thấy Harris chàng ta mừng rỡ nở nụ cười rồi tiến lại gần vànói : “Tôi dùng tổng cộng hết 25 đô-la, mua một vài    món và một bình nước, cô xem lại có đúng không?”

Jay Valentine, 32, outside La Esquina on Kenmare Street. Jay Valentine, 32, outside La Esquina on Kenmare Street. 

Đối diện với một người thật thà, đáng tin như vậy, Harris có chút cảm động, cô không kềm chế được và cầm lấy tay anh ta, liên tục nói: “Cảm ơn anh, cảm ơn anh”. Người đàn ông này không hiểu gì, rõ ràng người giúp đỡ anh chính là cô ấy, người phải cảm ơn phải là anh mới đúng chứ, sao cô ấy lại phải cảm ơn anh ta vậy?

Không lâu sau, cô cùng bạn bè đi đến tạp chí New York Post, mang chuyện vừa xảy ra kể ngay cho họ. Sau khi bài báo về anh chàng Valentin “đói cho sạch rách cho thơm” được bạn đọc biết đến, nhiều người cảm động và tình nguyện giúp đỡ anh.

Trong đó có một doanh nhân vô cùng thành đạt tại tiểu bang Texas đã gửi cho anh 6,000 đô-la để thưởng cho sự trung thực. Nhưng điều khiến anh sung sướng hơn cả là một hãng hàng không tại Wisconsin đã điện thoại và mời anh đến ký hợp đồng làm tiếp viên hàng không của hãng.

Có được quá nhiều sự giúp đỡ như vậy anh thật sự cảm thấy sung sướng: “Từ nhỏ mẹ tôi đã dạy tôi rằng dù nghèo nhưng cũng không được làm điều gì thất đức. Dù không được đi học những cũng không bao giờ được ném giá trị của bản thân xuống dưới đất để người khác dẫm đạp. Sở dĩ tôi được nhiều người giúp đỡ như vậy bởi tôi luôn tin rằng người thành thật ắt sẽ có một kết thúc tốt đẹp”.

Ngoài yêu thương ra, động từ đẹp nhất trên thế gian chính là giúp đỡ, đó là việc làm đáng được ngưỡng mộ nhất trong xã hội. Khi gặp người cần sự giúp đỡ, nếu có thể hãy giúp họ, bạn đừng bỏ lỡ cơ hội, vì có thể một cái chìa tay của bạn sẽ làm thay đổi cuộc đời một con người. Cũng giống như câu chuyện ở trên vậy!